Bài viết

Thiếu tướng Dương Văn Dương: Từ Thủ lĩnh Giang hồ Bình Xuyên đến Vị tướng Cách mạng Đầu tiên

Lê Văn Quản

12/08/2026phường Thủy Nguyên (phường Thủy Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dương Văn Dương (thường được gọi thân mật là Ba Dương) là một nhân vật đặc biệt và đầy huyền thoại trong lịch sử kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Xuất thân từ giới giang hồ lục lâm hảo hán Sài Gòn - Chợ Lớn, cuộc gặp gỡ định mệnh với lý tưởng cách mạng đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông, đưa ông trở thành một vị chỉ huy quân sự tài ba, kiên trung và là vị tướng quân đội đầu tiên được truy phong của miền Nam.


1. Thân thế và Thời niên thiếu

  • Năm sinh và Quê quán: Dương Văn Dương sinh năm 1900. Về quê quán và xuất thân của ông, các tư liệu lịch sử có một số cách lý giải khác nhau do cuộc sống phiêu dạt từ nhỏ. Có nguồn tài liệu chính thống ghi nhận ông sinh ra trong một gia đình nghèo ở Cù lao Minh, tỉnh Bến Tre. Một dòng tư liệu khác lại kể quê gốc của ông ở Lý Nhơn, Cần Giờ, vốn là cháu nội của phó tướng Dương Văn Hạnh – người thuộc nghĩa quân Trương Công Định. Cũng có nguồn cho rằng gia đình ông vốn là lưu dân vùng Ngũ Quảng (miền Trung Việt Nam).

  • Hoàn cảnh gia đình: Ông vốn họ Ngô, cha ông là Ngô Văn Mà (hoặc Dương Văn Thân), mẹ là bà Dương Thị Biểu (hoặc Lưu Thị Biểu). Vì cha là người có tinh thần chống Pháp và mất sớm khi ông mới được 3 tháng tuổi, Dương Văn Dương mang họ mẹ để lánh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Sau này, mẹ ông tái giá, người cha kế vô cùng thương yêu và đưa ông về nuôi dưỡng tại xóm cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay thuộc Quận 7, TP. Hồ Chí Minh).

  • Ý chí lập thân và võ nghệ: Nhà nghèo, Dương Văn Dương phải nghỉ học sớm và lăn lộn mưu sinh bằng nhiều nghề. Thời trẻ, ông từng làm nghề chăn vịt chạy đồng khắp các tỉnh Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công. Nhờ tính phóng khoáng và ham học hỏi, đi đến đâu ông cũng tìm những thầy giỏi võ nổi tiếng để thọ giáo, tự rèn luyện nên một trình độ võ thuật vô cùng xuất chúng.

  • Mở lò dạy võ: Năm 1936, sau khi cha kế mất, ông trở về cầu Rạch Đỉa mở lò dạy võ. Mục đích mở lò võ của ông rất nghĩa hiệp: giúp người dân lương thiện biết cách tự bảo vệ mình, không để kẻ mạnh hiếp đáp. Ông cũng kiêm thêm nghề bảo vệ (bảo hiểm bình dân) cho các ghe thuyền buôn bán trên kinh Cây Khô. Do danh tiếng trọng nghĩa khí, ông dần tập hợp được hàng trăm đệ tử và được tôn làm thủ lĩnh của giới giang hồ Bình Xuyên vùng Chánh Hưng, Chợ Lớn. Dưới quyền ông là nhiều tay anh chị cộm cán như Bảy Viễn, Mười Trí, Hai Vĩnh, Năm Hà (em ruột ông)....


  • 2. Hoạt động Cách mạng và Sự nghiệp Binh nghiệp

    Bước ngoặt giác ngộ lý tưởng (1940 – 1943)

    Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) thất bại bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt. Năm 1941, Dương Văn Dương bị bắt giam hai lần và bị tra tấn dã man trong nhà tù biệt giam. Tại đây, do mến phục tư cách kiên cường của các tù nhân chính trị cách mạng, ông chủ động làm quen và được các chiến sĩ Cộng sản cảm hóa, thức tỉnh lòng yêu nước.

    Ra tù, sau một thời gian ẩn náu ở biên giới Việt Nam - Campuchia, ông trở về Tân Quy vào năm 1943 và được các đảng viên Cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ông thầu bãi giữ gỗ của hãng đóng tàu Nichinan (Nhật Bản) để làm vỏ bọc tập hợp lực lượng giang hồ, thu phục nhân tâm và bí mật truy tầm, cất giấu vũ khí chuẩn bị cho đại cuộc.

    Khởi nghĩa giành chính quyền và Sáng lập Bộ đội Bình Xuyên (1945)

    • Chuẩn bị lực lượng: Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, dưới sự định hướng của các đảng viên Cộng sản, Ba Dương tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ lớn nhỏ (như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ). Lực lượng của ông mở tiệm cơm, quán nhậu để gạ mua hoặc tước vũ khí của lính Nhật, Pháp; đồng thời hỗ trợ diệt trừ mật thám, chỉ điểm ác ôn tại địa phương. Đến đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang của ông đã lên tới 70 người với 50 khẩu súng (có cả trọng liên và đại pháo), trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

  • Cách mạng Tháng Tám bùng nổ: Nhận kế hoạch từ Chi bộ Đảng Nhà Bè, ông chỉ huy toàn bộ lực lượng phối hợp chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bốt số 6, giải thoát thành công nhiều tù nhân chính trị.

  • Khai sinh danh xưng Bình Xuyên: Sau khi giành chính quyền, ông thống nhất các nhóm nghĩa sĩ giang hồ lại thành một khối thống nhất. Chính ông đã chọn tên ấp Bình Xuyên (thuộc làng Chánh Hưng) để đặt tên cho lực lượng này với tôn chỉ: “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với ý chí hào hán dẹp bất công. "Bộ đội Bình Xuyên" lừng lẫy chính thức ra đời từ đó dưới sự chỉ huy của Dương Văn Dương.

  • Kháng chiến bùng nổ và Đảm nhiệm Khu bộ phó Khu 7

    Ngày 23-9-1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam Bộ bước vào kháng chiến. Lực lượng bộ đội Bình Xuyên do Dương Văn Dương chỉ huy phối hợp chặt chẽ ở Mặt trận phía Nam Sài Gòn - Chợ Lớn (Mặt trận số 4).

    Tháng 10-1945, theo chủ trương của Đảng, ông thuyết phục thống nhất các nhóm thành lực lượng vũ trang Nhà Bè, do ông làm Chỉ huy trưởng, quân số lúc này lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 khẩu súng và nhiều vũ khí hạng nặng. Dưới sự cầm quân của ông, lực lượng Bình Xuyên chiến đấu vô cùng dũng cảm, lập chiến thắng vang dội tại trận phục kích tàu giặc ở kinh Cây Khô. Khi mặt trận Sài Gòn bị vỡ, ông chủ động rút quân về Phước An, Long Thành và chọn vùng ngập mặn Rừng Sác làm căn cứ địa kháng chiến lâu dài.

    Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình đến thăm Sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An và quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7, đồng thời phiên chế bộ đội Bình Xuyên thành các chi đội chính quy thuộc Vệ quốc đoàn. Trên cương vị mới, ngày 1-1-1946, ông trực tiếp cầm quân tập kích vang dội vào thị xã Biên Hòa.


    3. Cuộc hành quân Nam tiến và Sự hy sinh anh dũng (1946)

    Đầu năm 1946, chiến trường miền Tây Nam Bộ nguy ngập khi Pháp chiếm đóng hầu hết các tỉnh miền trung Nam Bộ, chỉ trừ tỉnh Bến Tre. Nhận mệnh lệnh chi viện của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình và lời kêu cứu từ chiến trường Khu 8, Dương Văn Dương tự mình chỉ huy liên quân gồm 5 đại đội thiện chiến nhất vượt sông Soài Rạp hướng về Bến Tre. Trước khi đi vào chiến trường gian khổ, ông đã chỉ thị cho binh sĩ tổ chức ăn Tết Nguyên đán sớm trước 3 ngày.

    Đêm 30 Tết Bính Tuất (năm 1946), liên quân vượt sông vừa đi vừa đánh tạo khí thế lớn. Tuy nhiên, khi đến bờ Nam Cửa Tiểu, nhận tin mặt trận An Hóa - Giao Hòa đã mất, ông dẫn quân về xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre hội quân cùng lực lượng Cộng hòa Vệ binh của tỉnh.

    Sáng ngày 17-2-1946 (có nguồn ghi ngày 16 hoặc 20-2-1946), khi đang họp bàn kế hoạch tác chiến tại ấp Bình Khương (xã Châu Bình), lực lượng của ta bị quân Pháp càn quét dữ dội và bao vây tứ phía. Nhận thấy tình thế nguy cấp, người cận vệ đưa cho ông một xấp giấy thuế thân giả làm thường dân để rút lui lánh nạn. Nhưng với khí phách kiên cường, ông đã xé vụn xấp giấy và khẳng khái nói:

    “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.

    Ông tiếp tục ở lại trực tiếp chỉ huy binh sĩ triển khai chiến đấu chống càn, lấy cây rơm sau nhà làm công sự che chắn. Trong trận chiến không cân sức ấy, những loạt đạn từ máy bay Spitfire của quân Pháp bắn phá dập dồn, một viên đạn đã xuyên thẳng lồng ngực khiến ông anh dũng hy sinh vào lúc 8 giờ 30 phút sáng. (Tuy nhiên, cũng có tài liệu từ phía đồng đội thân cận nghi ngờ ông bị ám sát ngầm từ phía sau).

    Thi hài ông bước đầu được nhân dân và bộ đội an táng tại xã Châu Bình. Sau ngày đất nước thống nhất (30-4-1975), hài cốt của ông đã được cải táng đưa về yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.


    4. Sự tôn vinh và Tưởng niệm

    Sự hy sinh anh dũng của vị thủ lĩnh dũng cảm đầy nghĩa khí Dương Văn Dương đã để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng quân và dân cả nước.

    • Vị tướng quân đội đầu tiên được truy phong: Ghi nhận công lao to lớn của ông, ngày 5-8-1946 (có nguồn ghi năm 1948), Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công nhận ông là liệt sĩ và truy phong quân hàm Thiếu tướng. Ông là vị tướng được truy phong đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và của cả chiến trường miền Nam.

  • Mật điện chia buồn của Bác Hồ: Trong bức điện mật số 946/TRT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến gia quyến của Thiếu tướng Dương Văn Dương.

  • Kênh Dương Văn Dương: Năm 1947, để tri ân ông, Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ quyết định lấy tên ông đặt cho con kênh đào dài nhất vùng Đồng Tháp Mười (dài 45km nối từ Long An sang Đồng Tháp, vốn mang tên cũ là kênh Lagrange của thực dân Pháp).

  • Di sản tên gọi: Trung đoàn 300 - Trung đoàn Nam tiến lừng lẫy đánh giặc giỏi đã vinh dự được mang tên Trung đoàn Dương Văn Dương. Hiện nay, tên ông được đặt cho nhiều tuyến đường tại TP. Hồ Chí Minh (quận Tân Phú), tỉnh Bến Tre, và ngôi Trường THPT Dương Văn Dương khang trang đặt tại huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh.


  • Các nguồn truy xuất tư liệu:

    1. Chân dung tướng lĩnh Quân khu 7 (1945-2020), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2021.

  • Dương Văn Dương – Wikipedia tiếng Việt.

  • Kênh Dương Văn Dương – Wikipedia tiếng Việt.

  • Tư liệu lịch sử chính thống từ bài viết trên Báo Thanh Niên.

  • Loạt bài nghiên cứu đăng tải trên trang của Bộ Tư lệnh Quân khu 7.

  • Tư liệu từ chương trình lịch sử của Kênh Góc Khuất Lịch Sử (YouTube).

  • Trích lược hồi ký quân sự trong tập tài liệu Lực Lượng Bình Xuyên - Huong Duong.

  • Sử liệu trong cuốn Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) những sự kiện, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1997.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn