Thiếu tướng Hà Mẫn (Kiên Đò): Từ người lính Tây Nam Bộ đến người giữ đường biên hữu nghị
Sinh ra ở Đông Yên, An Biên, Kiên Giang, ông Hà Mẫn đi qua ba cuộc kháng chiến, từ chống Pháp, chống Mỹ đến làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Cuối đời, ông góp phần vun đắp tình hữu nghị Việt Nam – Campuchia.

Hà Mẫn sinh ngày 1/7/1930 tại xã Đông Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông nhập ngũ năm 1947 và được kết nạp vào Đảng năm 1948. Khi ấy ông mới 17 tuổi, cả nước đang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu ở chiến trường Tây Nam Bộ, từng làm Trung đội trưởng bộ đội huyện Gò Quao, Chính trị viên Trung đội ở Rạch Giá và Trung đội trưởng Huyện đội Châu Thành B (Cần Thơ). Ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh, góp phần vào thắng lợi chung.
Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, ông tập kết ra Bắc, học Trường Sĩ quan Lục quân (1954–1956), rồi công tác tại nhiều đơn vị và cơ quan ở miền Bắc. Năm 1962, ông hành quân trở về miền Nam chiến đấu, giữ các chức vụ như Tiểu đoàn phó, Chính trị viên Tiểu đoàn. Từ năm 1964, ông làm ở Phòng Dân quân Miền, giúp Bộ Chỉ huy Miền xây dựng hệ thống dân quân từ Miền xuống xã, ấp, đồng thời huấn luyện lực lượng vũ trang địa phương. Đây là nền tảng của chiến tranh nhân dân, góp phần dẫn tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Sau ngày 30/4/1975, ông cùng đồng đội tham gia tiếp quản, cải huấn và khắc phục hậu quả chiến tranh ở Sài Gòn – Gia Định.
Từ năm 1979, ông làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giữ chức Tham mưu trưởng tiền phương Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An. Từ 1981 đến 1988, ông lần lượt làm Đoàn trưởng Đoàn 7703, 7701 và 7705. Ông giúp bạn xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương, bảo vệ tuyến biên giới. Ông trực tiếp chỉ huy và tham gia nhiều trận đánh, trong đó có trận Va Rin (18/1/1987) và thị trấn Sóc Ni Kum (1/2/1987).
Ông được thăng Thiếu tướng năm 1990. Đầu năm 1991, sau khi Hiệp định hòa bình giữa Việt Nam và Campuchia được ký kết, ông làm Phái viên quân sự của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tại Campuchia, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị. Từ người lính cầm súng ông chuyển sang làm cầu nối hữu nghị.
Ông nghỉ hưu năm 1997 và qua đời năm 2012. Ông được tặng ba Huân chương Quân công, Huân chương Chiến thắng, ba Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Cuộc đời ông cho thấy tinh thần bất khuất và đoàn kết của dân tộc. Người lính ấy không lùi bước trước gian khổ, và khi chiến tranh kết thúc thì tiếp tục xây tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Là người trẻ hôm nay, em học ở ông ý chí kiên cường, tinh thần trách nhiệm và khát vọng gìn giữ hòa bình.



