Bài viết

Thiếu tướng Hoàng Đan - "Hổ tướng người Nghệ"

10/08/2026Ban Thanh niên Công an tỉnh Nghệ An (Ban TN Công an tỉnh)14 lượt xem0 lượt chia sẻ

Gia phả dòng họ Hoàng ở xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc ghi rõ: “Hoàng Đan là hậu duệ đời thứ 22 của Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn - danh tướng đời nhà Trần”. Có lẽ, dòng máu con nhà võ đã chảy trong huyết quản của ông từ thuở niên thiếu, bởi vậy mà khi chỉ mới 17 tuổi, Hoàng Đan đã tham gia mặt trận Việt Minh; dẫn đầu một đoàn người cướp chính quyền tay sai huyện Nghi Lộc thời bấy giờ. Sự gan dạ của người thanh niên yêu nước đã dẫn ông đến các mặt trận ác liệt nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau này là đánh đuổi Mỹ, tiêu diệt giặc Pôn Pốt ở biên giới Tây Nam và chống xâm lược Trung Quốc ở mặt trận phía Bắc. Có nghĩa là trong cuộc đời binh nghiệp của ông, đâu có giặc là ông đi; và trong hơn nửa thể kỷ mặc áo lính thì có đến hơn 40 năm, Hoàng Đan trực tiếp cầm quân ở chiến trường. Ở đâu, hình ảnh người chỉ huy gan dạ, khí phách ấy cũng đã tiếp lửa cho anh em binh sĩ vững vàng trên mọi mặt trận.

Chuyện về sự mưu lược, dũng cảm của ông được khá nhiều tài liệu và nhân chứng lịch sử kể lại, từ giữa đến gần cuối thế kỷ 20. Những ngày đầu, khi quân đội Việt Minh còn non trẻ, vào năm 1949, để đánh đồn Lưu Diễm, Mỹ Chánh (huyện Phù Mỹ, Bình Định ngày nay), Hoàng Đan chủ trương cho binh sỹ bện tường rơm, làm khiên di động chắn hỏa lực địch, tiến công áp sát để diệt các hỏa điểm, xung phong đánh chiếm đồn thắng lợi. Hay như sau này, lối đánh phòng ngự phản công, đầy biến hóa của tướng Hoàng Đan đã gieo một mối khiếp đảm cho quân địch trên khắp các chiến trường từ Nam ra Bắc. Lối đánh địch của Hoàng Đan không giống ai, ông là một tướng lĩnh đã thoát khỏi “rọ giáo điều”, luôn tìm cách tổ chức, huấn luyện, nghiên cứu và tác chiến phù hợp với điều kiện cụ thể. Hoàng Đan từng nói “Nguyên tắc do con người đặt ra, con người có thể thay đổi chúng”. Thoát ra khỏi sự rập khuôn trong các chiến thuật quân sự, những trận đánh do Hoàng Đan chỉ huy đã mở ra một trình độ tác chiến mới của quân đội ta.

Có thể kể đến là trận đánh vận động tiến công tiểu đoàn Âu - Phi năm 1949 ở Ninh Bình, diệt - bắt sống 200 tên, trong đó có thiếu tá chỉ huy quân đội Pháp Đờ-Poanh-Tê; cũng tại chiến trường Ninh Binh, vào năm 1952, Hoàng Đan với vai trò là Tiểu đoàn trưởng, đã chỉ huy 5 trận đánh thắng liên tục, diệt gọn 5 đại đội địch, ta toàn thắng mà không thương vong

Hai năm sau, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đoàn 57 của Hoàng Đan, trong điều kiện đạn, pháo ít, đã áp chế địch hiệu quả, bằng cách cho trinh sát luồn sâu vào hàng rào trong cùng trận địa pháo địch ở Hồng Cúm, hễ khi có lệnh quân địch chuẩn bị bắn, trinh sát báo về, pháo - cối ta mới nổ súng để áp chế hỏa lực địch. Chiêu thức đánh trận này đã khiến địch hoang mang, không đánh giá được đúng thực lực hỏa địch ta; đồng thời, tiết kiệm được tổn hao về khí tài cho quân đội Việt Nam trên chiến trường. Trung đoàn 57 của Hoàng Đan góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Sang thời kỳ đánh Mỹ, những trận chiến do Hoàng Đan chỉ huy như Làng Vây, Tà Cơn, Khe Sanh (Quảng Trị), đặc biệt là cuộc đụng độ ở Chi khu quân sự Thượng Đức (nay thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) đã làm cho thế và lực của quân đội Việt Nam cộng hòa suy yếu hẳn. Trận Thượng Đức, để tăng hiệu lực pháo - đạn và tạo bất ngờ cho địch, Sư đoàn trưởng 304 Hoàng Đan đã cho bộ đội ta tháo rời pháo lớn, lặng lẽ, bí mật đưa lên điểm cao 1062, bắn thẳng, trực tiếp tiêu diệt các hỏa điểm, đồn địch, tạo điều kiện cho quân ta nhanh chóng áp sát, đánh chiếm chi khu. Địch hoàn toàn bị bất ngờ, ngỡ đạn pháo của quân đội miền Bắc “như ma” từ trên trời đánh xuống nên thua trận lớn. Do vị trí quan trọng của Thượng Đức, địch quyết tử đánh chiếm lại chi khu liên hợp này. Bộ đội ta vốn ít được huấn luyện về phòng ngự nên chống trả khá lúng túng. Trước tình thế này, Sư đoàn trưởng Hoàng Đan đã tiến hành huấn luyện bộ đội ngay trước mũi súng quân thù. Ông chia sư đoàn thành 2 bộ phận luân phiên: một nửa trực chiến, một nửa huấn luyện. Để thuyết phục cho bộ đội phòng ngự Thượng Đức, ông cho làm hầm chữ A để tránh pháo kích của địch. Anh em sỹ quan binh lính ngần ngại chưa tin ở chiến thuật chống đỡ này. Đích thân Sư đoàn trưởng 304 đã chui vào trong hầm, cho pháo cối bắn trực tiếp trên miệng hầm. Khi tiếng súng vừa dứt, trong khói đạn mịt mù, Hoàng Đan thản nhiên bước ra trong tiếng vỗ tay tán thưởng của mọi người. Thượng Đức được giữ vững, không mất một điểm tựa nào. Cuối năm 1974, địch buộc phải rút chạy, ta thừa thắng tiến công, giải phóng vùng B Đại Lộc, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch giải phóng Đà Nẵng; và sau này là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. 11 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, với cương vị là Phó Tư lệnh quân đoàn, Hoàng Đan là người đầu tiên có mặt ở Dinh Độc Lập.

2 miền Bắc - Nam thống nhất, nhưng tướng Hoàng Đan tiếp tục gánh vác những trách nhiệm nặng nề, trong chiến dịch đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc ở phương Bắc, giữ yên bờ cõi từ năm 1979 đến hết 1986. Với vai trò là tư lệnh chiến trường, vị tướng tuổi gần 60 vẫn xông pha nơi chiến trận, trực tiếp chỉ huy và truyền lửa cho bộ đội Việt Nam vững dạ chống trả kẻ thù. Kinh qua trận mạc, với “máu liều” của một người lính quê Nghệ, Hoàng Đan có đến 5 lần đối diện với cửa tử, ở khắp các chiến trường từ Bắc chí Nam. Tuy nhiên, ông vẫn gan dạ và đầy mưu trí, xem cái chết ở chiến trường là một sự đánh đổi, cống hiến cho độc lập, tự do của dân tộc. Tướng Hoàng Đan trở thành nỗi khiếp đảm của quân địch trong mỗi lần trực tiếp tham gia chỉ huy ở các chiến trận

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn