Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

THIẾU TƯỚNG HOÀNG HỮU KHÁNG – CẬN VỆ HƠN 2 THẬP KỶ BẢO VỆ BÁC HỒ, ĐƯỢC NGƯỜI TRỰC TIẾP ĐẶT TÊN

Thiếu tướng Hoàng Hữu Kháng là một trong những chiến sĩ cận vệ đầu tiên được giao nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng hành cùng Bác trong hơn hai thập kỷ, từ những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng cho đến khi Người qua đời. Ông cũng là một trong tám người vinh dự được Bác Hồ trực tiếp đặt tên, tạo nên câu khẩu hiệu lịch sử “Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi”.

Lâm Đồng25/08/2026Đoàn xã Tánh Linh (Tánh Linh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
THIẾU TƯỚNG HOÀNG HỮU KHÁNG – CẬN VỆ HƠN 2 THẬP KỶ BẢO VỆ BÁC HỒ, ĐƯỢC NGƯỜI TRỰC TIẾP ĐẶT TÊN

Ông Hoàng Hữu Kháng là một trong những cán bộ tiền bối của lực lượng Cảnh vệ Công an nhân dân, người đã có nhiều năm trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 5/1945 cho đến khi Người qua đời.

Trong suốt 36 năm gắn bó với lực lượng Cảnh vệ, trong đó có 28 năm đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Cục Cảnh vệ, ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, phát triển lực lượng.

Ông cũng là một trong tám chiến sĩ vinh dự được Bác Hồ đặt tên, tạo thành câu khẩu hiệu giàu ý nghĩa lịch sử: “Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi”, gắn với niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

image.png

Ông Hoàng Hữu Kháng (bên phải) tháp tùng Bác Hồ trong chuyến thăm Nhà máy dệt 8-3, Hà Nội, năm 1965. Ảnh: Tư liệu

Ông Hoàng Hữu Kháng (1912 - 1993) tên khai sinh là Nguyễn Văn Cao, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Nguyệt Giám, xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cũ, nay là tỉnh Hưng Yên.

Kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của quê hương và gia đình, Nguyễn Cao sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh tại địa phương như “Nông dân cứu quốc”, “Tự vệ cứu quốc”, đồng thời tham gia chống các chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp như bắt phu, bắt lính.

Những năm tháng hoạt động cách mạng ban đầu đã hun đúc bản lĩnh, ý chí kiên cường, trở thành nền tảng để ông sau này đảm nhận những nhiệm vụ đặc biệt trong lực lượng bảo vệ Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trước đó, tháng 12/1946, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ cùng các cơ quan, bộ, ngành Trung ương lần lượt rời Hà Nội, chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.

Trong những ngày đầu kháng chiến, thực hiện chỉ thị của Trung ương, Tổ Cận vệ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhanh chóng hành quân trở lại Việt Bắc. Tháp tùng Bác trong chuyến đi này là một tổ công tác tinh gọn gồm 8 chiến sĩ: Võ Chương, Vũ Long Chuẩn, Nguyễn Văn Lý, Văn Lâm, Ngọc Hà, Nguyễn Quang Chí, Trần Đình và Nguyễn Hữu Văn.

Dù được giao nhiệm vụ chính là bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng trên thực tế, các thành viên trong Tổ Cận vệ còn đảm nhiệm nhiều công việc khác theo yêu cầu của Bác và Trung ương như công tác văn phòng, liên lạc, phục vụ hậu cần, tổ chức sinh hoạt… Phương châm hoạt động của tổ là mỗi người phải có khả năng đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, linh hoạt trong mọi hoàn cảnh; tuy nhiên, bảo vệ Bác luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Đầu tháng 3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác đến xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, và tạm dừng chân tại đây. Sáng ngày 6/3/1947, Bác gọi tám chiến sĩ cận vệ đến bên mình để trò chuyện, căn dặn.

Thấu hiểu những khó khăn, gian khổ mà cuộc kháng chiến phía trước đặt ra, Bác động viên các chiến sĩ phải luôn giữ vững ý chí, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời nhắc nhở mọi người phải tuyệt đối giữ bí mật về hoạt động của Trung ương và Bác.

Sau khi phân công nhiệm vụ, Bác quyết định đặt tên mới cho tám chiến sĩ cận vệ. Bác nói rằng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc còn lâu dài, nhiều gian nan, thử thách, nhưng với ý chí và sự đoàn kết của toàn dân, nhất định sẽ giành thắng lợi. Để thể hiện quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, đồng thời bảo đảm bí mật trong công tác, Bác đặt tên cho tám đồng chí theo tám chữ trong câu khẩu hiệu: “Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi”.

Trong đó:

Trường - Võ Trường, tên thật là Võ Chương.

Kỳ - Vũ Kỳ, tên thật Vũ Long Chuẩn.

Kháng - Hoàng Hữu Kháng, tên thật Nguyễn Văn Cao.

Chiến - Tạ Quang Chiến, tên thật Nguyễn Hữu Văn.

Nhất - Hồ Văn Nhất, tên thật Hoàng Văn Phúc.

Định - Võ Viết Định, tên thật Chu Phương Vương.

Thắng - tên thật Nguyễn Văn Chí, tên thật Nguyễn Văn Huy.

Lợi - Trần Lợi, tên thật Trần Đình.

Quá trình hoạt động cách mạng của Hoàng Hữu Kháng

Cuối năm 1940, trong một cuộc mít tinh kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga do nhân dân Thái Bình tổ chức tại chợ Cao Mại, thực dân Pháp phát hiện người diễn thuyết và tiến hành đàn áp. Trong tình thế nguy cấp, Hoàng Hữu Kháng đã dũng cảm chống trả, tìm cách bảo vệ cán bộ cách mạng và giúp giải thoát diễn giả. Sau đó, ông bị thực dân Pháp bắt giữ, kết án 5 năm tù.

image.png

Ông Hoàng Hữu Kháng. Ảnh: Tư liệu.

Những năm tháng bị giam cầm tại các nhà tù khắc nghiệt như Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu (Thái Nguyên) không khuất phục được ý chí cách mạng của ông. Trong hoàn cảnh bị địch đày ải giữa những vùng rừng núi hiểm trở, Hoàng Hữu Kháng vẫn giữ vững khí tiết, tuyệt đối trung thành với tổ chức.

Tại nhà tù Chợ Chu, ông cùng các chiến sĩ cách mạng khác xây dựng tổ chức Đảng trong tù, do đồng chí Nguyễn Văn Khương (tức Song Hào, sau này là Thượng tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) làm Bí thư. Các chiến sĩ biến chốn lao tù thành nơi học tập lý luận, rèn luyện bản lĩnh, biến nhà tù thực dân thành trường học cách mạng.

Cuối năm 1944, thực hiện chỉ thị của Xứ ủy, Chi bộ Đảng trong nhà tù Chợ Chu tổ chức kế hoạch vượt ngục. Ông cùng 11 đảng viên, dưới sự chỉ huy của đồng chí Song Hào, đã thoát khỏi sự giam giữ của thực dân Pháp, trở về tiếp tục hoạt động cách mạng.

Sau khi trở về căn cứ, ông được tổ chức phân công tham gia Đội Cứu quốc quân III tại Chiến khu Nguyễn Huệ - căn cứ cách mạng rộng lớn bao gồm một phần địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Đoan Hùng (Phú Thọ), Yên Bình (Yên Bái)…

Đầu năm 1945, ông tiếp tục được cấp trên giao nhiệm vụ phụ trách Trường Quân chính kháng Nhật tại Tân Trào. Cũng trong thời gian này, ông được tổ chức đổi tên thành Nguyễn Văn Lý, mở đầu cho chặng đường hoạt động mới với nhiều nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, trở thành một trong 8 cận vệ bên cạnh Bác Hồ.

Thời điểm này, Nguyễn Văn Lý được Bác đặt lại tên là Kháng. Còn họ và tên đệm của ông lấy họ và tên đệm của đồng chí Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến.

Ông và các thành viên trong đội cận vệ đã đã nhiều lần bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh vô cùng căng thẳng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm.

Trong đó có những chuyến công tác đặc biệt quan trọng như bảo vệ Bác Hồ trong các cuộc tiếp xúc, đàm phán với đại diện quân Tưởng tại nơi đóng quân của họ; cuộc gặp với đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp Jean Sainteny; đặc biệt là chuyến theo Bác ra Vịnh Hạ Long để trực tiếp đàm phán với Cao ủy Pháp tại Đông Dương D’Argenlieu trên tuần dương hạm Émile Bertin.

Trong những chuyến đi mang ý nghĩa chính trị, ngoại giao đặc biệt quan trọng này, các chiến sĩ cận vệ không chỉ phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn phải xử lý linh hoạt mọi tình huống phát sinh, góp phần bảo vệ thành công hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng còn non trẻ.

Với thành tích và công lao to lớn, ông Hoàng Hữu Kháng đã được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người; được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, và nhiều phần thưởng cao quý khác. Năm 2016, ông Hoàng Hữu Kháng đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
THIẾU TƯỚNG HOÀNG HỮU KHÁNG – CẬN VỆ HƠN 2 THẬP KỶ BẢO VỆ BÁC HỒ, ĐƯỢC NGƯỜI TRỰC TIẾP ĐẶT TÊN | Câu chuyện thời hoa lửa