Thiếu tướng Hoàng Kim
Thiếu tướng Hoàng Kim
Tháng 4 năm 2013, tôi có vinh dự được gặp Thiếu tướng Hoàng Kim, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4 (khi đó ông sống cùng gia đình tại đường Ung Văn Khiêm, Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh). Chia sẻ về quá trình hoạt động chiến đấu của mình, ông không quên dành tặng cho Bảo tàng Quân đoàn 4 nhiều kỷ vật quý giá gắn với cuộc đời cách mạng của mình làm hiện vật truyền thống.
Truyền thống gia đình
Thiếu tướng Hoàng Kim sinh năm 1927, trong một gia đình có truyền thống cách mạng tại Xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Mỗi khi nhắc về gia đình, ông Kim luôn tự hào về người cha được Chính phủ truy tặng Bằng có công với Nước và mẹ ông được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ông có 8 anh chị em. Anh cả là Huỳnh Cự (bí danh Hoàng Mai), hoạt động cách mạng từ năm 1935, là Tỉnh ủy viên bí mật của tỉnh Quảng Nam, từng bị giặc bắt tù đày - là một trong “bộ tứ” Xuân, Hạ, Thu, Đông của Tỉnh ủy Quảng Nam (Xuân: Võ Chí Công; Hạ: Huỳnh Cự; Thu: Nguyễn Sắc Kim, Đông: Trương Kiểm). Thiếu tướng Hoàng Kim tâm sự: “Khi anh tôi không may bị giặc bắt, tôi vào tận nhà tù để thăm anh, anh dặn rằng “hoạt động cách mạng thì rất khó khăn, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi”. Câu nói này đi theo tôi suốt cuộc đời”. Năm 1947, ông Hoàng Mai bị giặc Pháp bắt và giết hại tại Đơn Dương, sau được truy tặng là liệt sỹ.
Tiếp đến là hai người chị Huỳnh Thị Thành và Huỳnh Thị Thanh đều tham gia hoạt động cách mạng, sau đó bị bệnh mất. Chồng chị Thanh là Phạm Đoàn, từng bị địch bắt tù đày từ trước tháng 8/1945, là cán bộ lão thành cách mạng. Em gái là bà Huỳnh Thị Như Loan, tham gia chống Pháp đã hy sinh tại Duy Xuyên, được truy tặng là liệt sỹ.
Đồng chí Võ Văn Dần Tư lệnh Quân đoàn và đồng chí Hoàng Kim, phó Tư lệnh chính trị Quân đoàn chụp hình lưu niệm với đoàn học sinh Trường Hoa Hồng 1, Campuchia, năm 1985.
Ông Hoàng Châu Sinh (con liệt sỹ Hoàng Mai) là cháu ruột của Thiếu tướng Hoàng Kim, tập kết ra Bắc, là Biên tập viên của Tạp chí Học tập (Tạp chí Cộng sản ngày nay). Năm 1972, ông Sinh được lựa chọn về Nam chiến đấu hay đi học ở Liên Xô, song ông đã tình nguyện vào miền Nam chiến đấu, công tác tại Văn phòng Liên Khu ủy, sau này là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam.
Hành trình đến với cách mạng
Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, bố mẹ đều tham gia kháng chiến nên đồng chí Hoàng Kim được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Năm 1942, khi vừa tròn 15 tuổi, ông đã tham gia cách mạng và đồng chí được phân công đi học tại trường Chấn Thanh – Đà Nẵng để xây dựng phong trào cách mạng trong học sinh. Sau một năm hoạt động bí mật thì bị địch phát hiện và bị giặc Pháp bắt, giam tại Nhà tù Đà Nẵng, sau đó chuyển ra Nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Cuối năm 1944, ông được thả vì mới 17 tuổi. Ra tù, tháng 1/1945, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng với cương vị Tổ trưởng Thanh niên Cứu quốc.
Tháng 8/1945, ông là Chính trị viên đơn vị tự vệ, tham gia cướp chính quyền ở huyện Duy Xuyên; sau đó, ông làm cán bộ tuyên truyền lưu động của huyện.
Ngày 28/9/1945, ông chuyển công tác về Ban Tuyên truyền Chi đội Quảng Nam, rồi Trường Quân chính Quảng Nam. Tháng 12/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Từ cuối tháng 9/1945 đến tháng 1/1950, ông được giao nhiều cương vị như: Chính trị viên đại đội, Bí thư Chi bộ, Tiểu đoàn ủy, Trung đoàn 96 Đà Nẵng đánh giặc Pháp để bảo vệ Đà Nẵng; Hành chính văn phòng Quân khu ủy, Quân khu 5; Phó ban Bí thư Văn phòng Liên khu 5.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, ông tập kết ra Bắc giữ nhiều trọng trách: Từ Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 954, rồi Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn Pháo binh 378. Từ năm 1962 – 1964, ông sang Trung Quốc học tập, sau đó về nước giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 341, rồi Chính ủy Trung đoàn cao xạ 282; tiếp đó là Chính ủy Trung đoàn Tên lửa 238 thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân. Ông cùng Ban Chỉ huy Trung đoàn chỉ huy chiến đấu, hạ gục những chiếc máy bay chiến lược B-52 của Hoa Kỳ trên bầu trời Vĩnh Linh (Quảng Trị). Sau đó, ông về làm Trưởng Phòng Tuyên huấn Quân khu 4, rồi đi học tại Học viện Chính trị. Học xong ông về làm Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 308. Đồng chí đã tham gia với Sư đoàn 308 hai chiến dịch: Đường 9 Nam Lào và Đông Hà – Quảng Trị. Đồng chí đã bị nhiễm chất độc màu da cam tại chiến trường này.
Đầu năm 1971-1972, ông giữ vai trò Chính ủy Sư đoàn 308 chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị và giải phóng Thành cổ Quảng Trị. Sau khi đất nước thống nhất ông được giao vai trò mới là đảm nhiệm Cục trưởng Cục Tuyên huấn của Tổng cục Chính trị. Cuối năm 1979, ông được điều về làm Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu Thủ đô (nay là Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội). Tại đây, đồng chí được phong hàm Thiếu tướng.
Từ tháng 1/1980 đến tháng 6/1990, đồng chí được giao nhiều cương vị như Phó chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 34; Phó Tư lệnh về Chính trị-Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô, Ủy viên Thường vụ Quân khu Thủ đô; Đảng ủy viên, Bí thư Chi bộ Học viện Quân sự cấp cao; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân khu Thủ đô; Chủ nhiệm Chính trị, Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 4, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân đoàn 4. Tháng 7/1990, ông nghỉ hưu theo chế độ.
Về địa phương, ông tham gia công tác với rất nhiều trọng trách: Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam quận Bình Thạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Bình Thạnh, Phó Ban đại diện Hội Người cao tuổi quận Bình Thạnh; Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thái cực Trường sinh đạo Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Câu lạc bộ Dưỡng sinh Thái cực Trường sinh đạo Thành phố Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội đồng hương huyện Duy Xuyên; Chủ tịch Hội đồng hương tỉnh Quảng Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh; Trưởng các Ban Liên lạc Truyền thống Sư đoàn 308, Phòng Chính trị Liên khu 5… Dù ở cương vị nào, ông cũng tích cực, hết mình vì công việc.
Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý. Trong kháng chiến chống Pháp ông được tặng thưởng: Huân chương Chiến công hạng Ba; Bằng khen tuyên dương công trạng toàn Liên khu; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì và nhiều lần là Chiến sỹ thi đua. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí được tặng thưởng: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Ba trong Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Khi đất nước độc lập thống nhất đồng chí được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của Nhà nước Campuchia; Huân chương Hữu nghị của Cộng hòa dân chủ Đức và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đồng chí được tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Những kỷ vật gắn với chặng đường cách mạng
Trở về quê hương sau những năm tháng chiến đấu, hành trang của người lính là những kỷ vật tuy đơn sơ nhưng lại gắn bó với ông suốt chặng đường dài gian khổ, trong nhiều năm kháng chiến trường kỳ. Nhìn chiếc Ca Quyết chiến Quyết thắng (do quân đội cấp) - dùng để uống nước hàng ngày trên khắp các chiến trường; ba lô - dùng đựng quân tư trang cá nhân mũ chống côn trùng; mũ tai bèo, mũ cối, mũ lưỡi trai là những trang bị cơ bản của bộ đội; khăn tay của các cháu Thiếu niên Nhi đồng Trường Hoa hồng Campuchia tặng nhân dịp Thiếu tướng tới thăm Trường năm 1989, trước khi Quân đoàn hoàn thành nghĩa vụ Quốc tế trở về nước; khăn quàng đỏ của các cháu học sinh quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tặng ông nhân dịp Thiếu tướng đi dự Lễ kỷ niệm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong năm 1993; khăn tay của Sư đoàn 308 tặng Thiếu tướng Hoàng Kim nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Sư đoàn đã úa màu thời gian. Ông xúc động nghẹn ngào: “Đây là kỉ vật tuy đơn sơ, nhưng đã gắn bó với tôi suốt những tháng năm chiến đấu”.
Thiếu tướng Hoàng Kim tâm sự: “Những khi công việc áp lực hay nhớ thương đồng đội, đồng chí lại ngắm những kỷ vật để được trở về với những năm tháng tuổi trẻ oanh liệt, hào hùng. Ở đó, có gian khổ, hiểm nguy và niềm vinh quang chiến thắng, có nghĩa tình đồng đội bền sâu… nay đồng chí trao lại cho Bảo tàng Quân đoàn 4 lưu giữ và tiếp tục tuyên truyền cho các thế hệ mai sau những giá trị lịch sử của cha ông xây dựng”.



