Thiếu tướng Huỳnh Xuân Quang
Thiếu tướng Huỳnh Xuân Quang
Thiếu tướng Huỳnh Xuân Quang tên thật là Nguyễn Văn Ngay, sinh năm 1930 tại xã Mỹ Hoà, huyện Ba Tri. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông anh em. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lúc mới 15 tuổi đầu, ông đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia làm công tác giao liên. Trong thời gian này, ông được gặp ông Huỳnh Thiên Niên là cán bộ Ban chỉ huy Quân sự huyện Ba Tri đồng thời là đảng viên chi bộ Tân Xuân là chi bộ đầu tiên ở Bến Tre. Được sự cho phép của cha ruột, ông đã trở thành con nuôi của ông Huỳnh Thiên Niên và tên Huỳnh Xuân Quang được đặt mới cho ông kể từ đó. Đến tháng 12-1948, ông thoát ly tham gia cách mạng và được kết nạp và Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1949, kể từ đó cho đến năm 1954, ông có mặt hầu như trên khắp các chiến trường miền Tây Nam Bộ. Sau hiệp định Giơnevơ kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương, ông tập kết ra Bắc. Sau thời gian công tác, học tập ở miền Bắc, tháng 5-1961 ông được tổ chức giao nhiệm vụ và phân công trở lại chiến trường miền Nam. Kể từ đó cho đến 30- 4 -1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ông công tác ở chiến trường Tây Nam Bộ trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Từ tháng 9-1978, sau khi hoàn thành lớp cao cấp Học viện Quân sự, ông được tổ chức điều động trở lại làm Chính uỷ Sư đoàn 330 đóng quân ở Chi Lăng - An Giang, trực tiếp chỉ huy chiến đấu bảo vệ chiến trường Tây Nam. Kể từ đó cho đến năm 1981, ông tham gia chiến đấu trên đất bạn Campuchia. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 330 đã anh dũng kiên cường đánh nhiều trận lớn thắng lợi giòn giã như trận Bà Cò, Ba Súc, Tà Keo, Kom- pông- Chrây, Pô- chen- tông... Năm 1980, ông được phong quân hàm Đại tá và được điều động bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 4 - Quân khu 9. Đến năm 1981, được trên điều động và bổ nhiệm chức vụ Phó tư lệnh chính trị Mặt trận 979 - Quân khu 9. Tháng 10 năm 1983, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị kiêm Chủ tịch Hội đồng Chính trị Quân khu 9. Một năm sau, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và tiếp tục cùng với cục Chính trị quân khu triển khai nhiều kế hoạch phát huy sức mạnh tổng hợp kết hợp tác chiến với vận động quần chúng đánh địch tổng hợp đánh bại đợt phản kích lần thứ 2 của địch từ biên giới Thái Lan. Giúp xây dựng và củng cố lực lượng, bảo vệ bình yên biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Năm 1989, do tình trạng sức khoẻ đã giảm sút không còn khả năng công tác nên xin được nghỉ hưu. Suốt gần 45 năm tham gia cách mạng, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng II, Huân chương Quân công hạng I,II,III, Huân chương Quốc tế hạng I, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương khác.



