Bài viết

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát: Phải giữ gìn lấy biển quê hương

Quảng Ngãi08/06/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát quê ở làng Trung Sơn, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) - nguyên Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông thường được biết đến như là một vị tướng có công đầu đối với sự hình thành và phát triển của Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng từ ngày đầu thành lập đến khi kháng chiến chống Mỹ kết thúc. Ông cũng là người có những cống hiến không nhỏ đối với việc xây dựng đoàn tàu không số, chỉ đạo và phát triển đường mòn Hồ Chí Minh trên biển chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam, bảo vệ và phòng thủ bờ biển...Đặc biệt, trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp tại Quảng Nam - Đà Nẵng (20/12/1946), cùng với Thượng tướng Đàm Quang Trung, ông là vị chỉ huy can trường trực tiếp tổ chức nhiều trận đánh ác liệt gắn liền với các địa danh như: đèo Hải Vân, Xuân Thiều, Gò Cà, Thanh Quýt, sông Trường Định....

Gần đây, trong tập sách “Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát vị tướng tài trí” (do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành 2008) bao gồm nhiều bài viết của các tác giả: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Đôn, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nhà báo Tạ Xuân Linh... cũng khẳng định những đóng góp to lớn của ông trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là những công lao của ông trong 9 năm chiến đấu ở Quân khu 5 thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tên ông cũng đã được đặt cho một đường phố chính ở thành phố Đà Nẵng quê hương.

Từ tháng 7 năm 1945, ông bắt đầu tham gia đội tự vệ bí mật của Việt Minh, chuẩn bị cướp chính quyền ở Đà Nẵng. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 8 năm 1945, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban nhân dân lâm thời xã Trung Sơn. Sau đó, ông tham gia chỉ huy bộ đội lập nhiều chiến công tại Chiến trường Liên khu 5 và Tây Nguyên. Từ năm 1946 đến năm 1949, ông từng giữ các chức vụ: Chi đội phó Chi đội Phan Đình Phùng, Chỉ huy trưởng Mặt trận Buôn Ma Thuột và đường số 14, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 96, 73, 126...

Đặc biệt, trong 3 ngày đầu tiên khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ, ông là một trong những thành viên chỉ huy của Ủy ban Quân sự Quảng Nam – Đà Nẵng góp phần quyết định các phương hướng chiến đấu, tấn công tại Đà Nẵng. Ông đã kể lại các diễn biến trong 3 ngày này như sau:

“ Trong ngày đầu (20/12/1946), địch đánh ta trên 5 trục lớn, bao gồm các hướng: nhà ga, cầu vồng, đường Con Gà (qua ngã năm), từ nhà máy đèn đánh lên cơ quan Liên kiểm quân sự, từ nhà Mourin-surim đánh lên Cổ Viện Chàm, sân bay. Tuy nhiên địch đến đâu cũng bị quân ta chắn đánh, gây nhiều thương vong. Đồng bào còn lại trong thành phố đều được đưa đi tản cư đến các khu vực đã chuẩn bị sẵn: Tây Bắc Hòa Vang, Cẩm Lệ, Túy Loan, Điện Ngọc.

Ngày thứ hai (21/12/1946), địch cố đánh giải tỏa thành phố, tập trung ở các hướng: phía tây, chúng tiến vào nhà ga, chợ Cồn; phía nam đánh lên chợ Mới Bình Hòa. Cùng lúc pháo địch ở hầm tàu bắn lên uy hiếp tinh thần quân dân ta. Thương vong cả hai bên rất nhiều.

Ngày thứ ba ( 22/12/1946), địch tập trung lực lượng đánh lên phía sân bay, bị Tiểu đoàn 17 chặn đánh ác liệt. Sau đó, quân ta dạt ra ngoại vi. Như vậy sau 3 ngày kịch chiến, mặc dù địch giải tỏa thành phố và liên lạc được sân bay, nhưng chúng phải tổn thất hết sức nặng nề”.

Về sau, khi chiếm được các vị trí phía tây và thành phố Đà Nẵng, hoạt động chủ yếu của địch lúc này là dồn lực lượng thông đèo Hải Vân và giải vây Huế. Ngày 17/2/1947, sau khi được tăng quân, địch tiến đánh Thủy Tú, đổ bộ lên Liên Chiểu, Hải Vân. Địch mở thêm một mũi nữa ở phía Lăng Cô đánh trở vào mới giải tỏa được Hải Vân. Tuy nhiên, lực lượng vũ trang của ta, sau khi rút khỏi gọng kìm bao vây của địch, bắt đầu hình thành một thế trận khác, chủ yếu là phục kích đánh giao thông… Trong đó, trận đánh đèo Hải Vân lần thứ hai (23/6/1947) tiêu diệt đoàn xe địch chở đầy lính lê dương (có tên quan năm Roger, chỉ huy miền Trung Đông Dương) vang dội toàn quốc.

Nhà báo Tạ Xuân Linh (nguyên phóng viên báo Quảng Nam - Đà Nẵng), người có thời gian dài gắn bó cùng Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát đã nhắc lại: “Tôi hỏi anh: Anh nhớ gì nhất trong cuộc đời anh? Trả lời: Tôi nhớ nhất là trong cuộc mitting ở Lâm Viêng, Tây Nam Hòa Vang đêm 4/4/1947, thay mặt cho Trung đoàn 96 hứa với đồng bào: “Mãi mãi sống chết bên đồng bào”, trước đó còn có phiên hiệu là Chi đội 2 độc lập, rồi Trung đoàn 7 tiếp phòng quân đã làm như đã hứa. Tôi cũng nhớ nhất lời khen ngợi của đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tặng cờ “Giữ vững” cho Trung đoàn 96 và khen ngợi vào tháng 5 năm 1947: “So sánh với toàn quốc, mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng được liệt vào hàng đánh mạnh nhất”.

Trong những lần được tiếp cận Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát tại nhà riêng lúc sinh thời, tôi luôn có ấn tượng khó quên, bởi bao giờ ông cũng thể hiện một phong cách rất riêng. Đó là trước khi mở đầu câu chuyện, ông mời liên tiếp 3 ly rượu trắng rất nặng. Ông nói: “Tôi là dân thủy thủ. Cậu phải uống với tôi mới hiểu được những câu chuyện sóng gió trên biển cả...”. Những câu chuyện kể của ông sau này, tôi thấy phần lớn đều in lại trên nhiều sách báo. Tuy nhiên, những điều ông nói về biển tôi còn lưu giữ lại dưới đây thì hầu như chưa thấy trích dẫn:

“Tôi lớn lên trong một gia đình nghèo, cha là một nhà nho có tinh thần yêu nước, dạy chữ Hán có tiếng trong vùng. Năm 10 tuổi, phần vì chỉ học chữ quốc ngữ, phần vì có những chuyện không hay trong tộc họ, tôi bỏ đi đăng vào các tàu Pháp (1939). Sáu năm lênh đênh trên biển cả, tôi đã đi đến nhiều bờ biển châu Á, châu Phi, qua tận đảo Rê-uy-ni-ông hay Ma-đa-gát-ca để tìm thăm ông vua và các chiến sĩ yêu nước bị đày ải ở đó. Trong các câu lạc bộ thủy thủ, tôi được nghe bao điều, từ cộng sản đến xã hội, tự do đến cách mạng và nhiều thông tin ở quê nhà. Năm 1945, sau khi về Sài Gòn, tôi lẩn trốn về quê, rồi tham gia Ủy ban cách mạng của làng Trung Sơn (Hòa Vang). Từ bài học quân sự cách mạng đầu tiên ở làng quê, tôi tiếp nhận mọi nhiệm vụ và có mặt ở mọi chiến trường cho đến khi thành người Tư lệnh Hải quân nhân dân, có lúc kiêm Tư lệnh quân khu Đông Bắc.

Thời tuổi trẻ, tôi có nhiều kỷ niệm về biển cả, hay đúng hơn, tôi đã được đi trên những con đường diệu kỳ - đường “Hồ Chí Minh trên biển” để cùng anh em bộ đội các quân chủng khác giành lại độc lập cho quê hương. Có lần đón Bác Hồ đến thăm một đơn vị Hải quân, tôi nhớ lời Bác nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Tôi muốn nhắc lại câu nói đó với các bạn trẻ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn