Cựu chiến binh

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát tài trí vẹn toàn

Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát (1921 - 1993), tên gọi thân thương là anh Bảy Phát, một người con ưu tú của quê hương xứ Quảng bất khuất, kiên trung. Ông nguyên là Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Hải sản. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành Công, ông hăng hái gia nhập hàng ngũ quân đội Cách mạng, trực tiếp cầm súng c

03/03/2026CAND (PA04)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 6 năm 1945, tôi giác ngộ cách mạng được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc và tự vệ bí mật địa phương. Sau đó, tôi được cử đi học lớp quân sự. Học xong tôi được cấp trên chỉ định làm chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ tổng Thái Hòa.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở tổng. Chẳng bao lâu sau, tôi về xã làm ủy viên quân sự. Lúc này anh ruột và chị ruột tôi cũng có chân trong Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời của xã.

Tháng 9 năm 1945, tôi xin gia nhập Vệ quốc đoàn tại Đà Nẵng và cũng ở đây, tôi tình nguyện tham gia thủy đội Bạch Đằng. Đến tháng 10 năm 1945, cả đơn vị này đi Nam tiến trong khí thế cách mạng đang lên cao.

Đơn vị của chúng tôi vào đến Qui Nhơn thì dừng lại để luyện tập. Lúc này bọn Nhật còn đóng ở đây để chờ quân Anh ra giải giáp.

Sự kiện ngày 23 tháng 5 năm 1945 ở Nam Bộ đã cho ta thấy toàn bộ âm mưu của bọn đế quốc. Để ngăn chặn tai họa đó có thể diễn ra ở khu vực này, đơn vị của chúng tôi được lệnh của cấp trên tiến công quân Nhật đóng tại Qui Nhơn. Trận thử lửa đầu tiên này đã đưa đơn vị của chúng tôi vào chi viện cho mặt trận Nha Trang, sau khi mặt trận này bị vỡ, tôi trở ra Bình Định và Phú Yên.

Lúc này tôi được đề bạt làm chỉ huy phó chi đội Phan Đình Phùng. Khoảng tháng 5 năm 1946, tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng mặt trận Buôn Ma Thuột. Cũng trong thời gian này tôi gặp Tiểu đoàn Phan Thanh tại mặt trận Bôkeo.

Trong lúc Hội nghị Phông-ten-nơ-bờ-lô đang họp, thì quân Pháp từ Buôn Ma Thuột tiến công ra Pleiku và Kon Tum - Đại đoàn 23 do đồng chí Đào Văn Trương làm Tư lệnh trưởng, đồng chí Trần Lương làm Chính ủy và tôi làm Tham mưu trưởng được lệnh rút về Bình Định để chỉnh đốn lại lực lượng.

Do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về nhận nhiệm vụ tại Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ, chuyên trách công tác phá hoại. Lúc này, tôi có dịp về tỉnh nhà gặp Ủy ban kháng chiến Quảng Nam - Đà Nẵng để bàn kế hoạch phá hoại hệ thống cầu dọc quốc lộ số 1 và đường sắt.

Khoảng tháng 10 năm 1946, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy mặt trận An Khê.

Đầu tháng 12 năm 1946, sau khi gặp đồng chí Phạm Văn Đồng tại tỉnh Quảng Ngãi, tôi được điều ra mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng làm chỉ huy phó Ban Quân sự tỉnh. Ủy ban này do đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ làm Chính ủy.

Sau tiếng súng kháng chiến nổ, ngoài chức trách Chỉ huy phó Ủy ban Quân sự, tôi còn kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 96.

Đến tháng 1 năm 1947, Trung đoàn này được lệnh rút vào Quảng Ngãi để củng cố lực lượng, sau thời gian chiến đấu dũng cảm nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù.

Mùa hè năm 1948, theo lệnh của cấp trên, tôi đưa 2 Tiểu đoàn khá mạnh của Trung đoàn 96 ra hoạt động Quảng Nam - Đà Nẵng. Khoảng tháng 10 năm 1948, tôi thay đồng chí Đàm Quang Trung làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 kiêm Chỉ huy trướng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.

Đầu năm 1950, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Trung đoàn 108 (đơn vị chủ lực của Quân khu). Cuối năm 1950, Trung đoàn này được lệnh ra hoạt động ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

Sau một thời gian hoạt động ở tỉnh nhà, đơn vị của chúng tôi lại rút vào Quảng Ngãi rồi chuyển lên Tây Nguyên tiêu diệt tiểu khu Konplong, mở đầu chiến thuật đánh công kiên trên chiến trường Liên khu 5. Cũng trong lúc này, Tiểu đoàn 59 được điều ra Quảng Nam - Đà Nẵng đánh sụp một lúc 8 tháp canh, mở ra phương hướng phá vỡ hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch.

Năm 1951, do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về làm Tham mưu phó Quân khu. Giữa năm 1952, tôi trở ra Quảng Nam - Đà Nẵng cũng với một Trung đoàn chủ lực mở chiến dịch hè, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, và thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở tỉnh nhà tiến lên. Chiến dịch này do đồng chí Búi San làm chính ủy, đồng chí Trần Lê phụ trách chủ nhiệm chính trị.

Năm 1954, tôi được đề bạt Tham mưu trưởng Quân khu cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Một số đặc điểm của tỉnh nhà trước khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ

Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những tỉnh lớn ở Trung Bộ, dân số đông, tài nguyên phong phú. Riêng Đà Nẵng một thành phố nhượng địa của Pháp trước kia - chiếm một vị trí khá quan trọng về mặt quân sự ở miền Trung Đông Dương. Vì nó là hải cảng lớn và là căn cứ đầu cầu để triển khai lực lượng đánh chiếm Trị Thiên, và một số tỉnh của Khu 5, Tây Nguyên và Hạ Lào.

Một thành phố nằm trên vĩ tuyến 16 này đã chứng kiến bao sự kiện thay đổi: hết Pháp đến Nhật, Nhật đi quân Tưởng rồi bọn Pháp quay trở lại. Một số phần tử phản cách mạng và một số tên tay sai cũng ngo ngoe ngóc đầu dậy, nhưng đều bị ngọn triều cách mạng cuốn phăng đi.

Nhân dân tỉnh nhà có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp nơi và ngày càng vững mạnh. Chính quyền đó có đầy đủ uy thế và nghị lực để huy động quần chúng bảo vệ thành quả cách mạng vừa mới giành được.

Trình độ giác ngộ của quần chúng nhân dân khá cao, ai nấy đều gia nhập các tổ chức cứu quốc, tham gia dân quân tự vệ, một lòng một dạ bảo vệ và xây dựng chính quyền của mình.

Lực lượng quân sự của ta ở đây cũng khá mạnh ngoài Trung đoàn 93 của tỉnh nhà, cấp trên đã điều ra một trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 96). Về trang bị và kỹ thuật tác chiến tuy còn kém, nhưng tinh thần chiến đấu thì rất cao.

Do vị trí rất quan trọng của Quảng Nam – Đà Nẵng (đặc biệt là Đà Nẵng) cho nên về phía địch, chúng tìm cách gia tăng lực lượng, tạo mọi điều kiện để đánh chiếm. Về phía ta thì Trung ương, Xứ ủy và Liên khu ủy cũng đặc biệt coi trọng, tăng cường cán bộ chỉ đạo về chính trị và quân sự, đưa Trung đoàn 96 ra làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, hằng ngày, hằng giờ có ý kiến chỉ đạo đối phó với mọi tình huống xảy ra. Qua một số tình hình đặc điểm nói trên, thấy rõ tính chất gay go và quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa ta và địch và cũng qua đó làm nổi lên một số điều kiện thuận lợi và một số yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp.

*
* *


Tình hình ở những nơi có quân đội Pháp đóng ngày một căng thẳng. Sau Tạm ước 14-9-1946, mức độ căng thẳng lại tăng lên, nghiêm trọng nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn. Đà Nẵng cũng nằm trong tình hình chung đó.

Sau khi nhận huấn thị của đồng chí Phạm Văn Đồng, đầu tháng 12 năm 1946 tôi nhận lệnh về tỉnh nhà nhận công tác. Qua tìm hiểu tình hình ở Ty Liên kiểm quân sự Việt - Pháp, tôi mới thấy hết trách nhiệm nặng nề của mình.

Lúc bấy giờ, bọn Pháp đóng quân ở Trẹm, sân bay Tháp Chàm thành phố Đà Nẵng. Bọn Pháp kiều thì ở đồn về phía ngã 5. Quân số của chúng cứ một ngày tăng lên, đến trước ngày tác chiến lực lượng của chúng có khoảng 5.000 tên trang bị vũ khí hiện đại.

Còn ta thì có quân tiếp phòng đóng xen kẽ với chúng. Tiểu đoàn 17 đóng tại Bình Hòa (giữa sân bay và thành phố). Tiểu đoàn 18 đóng ở phía nhà ga. Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một bộ phận đóng phía đèo Hải Vân và một bộ phận đóng tại Nghi An (phía tây sân bay). Thế trận đôi bên đều ở tình trạng sẵn sàng chiến đấu.

Ngoài những âm mưu và thủ đoạn chính trị như: gây cơ sở tình báo, dùng tiền tài mua chuộc, lôi kéo những tên tay sai cũ... chúng còn tăng quân số đòi triển khai lực lượng gây ra nhiều vụ khiêu khích, tạo điều kiện để tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Nghiêm trọng nhất là vụ xé cờ của ta tại trụ sở mặt trận Việt Minh thành phố, gây nên sự phẫn uất cao độ trong quần chúng nhân dân.

Trước tình hình đó, thi hành mật lệnh của cấp trên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Thành ủy, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã khẩn trương và tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc kháng chiến.

Ủy ban Quân sự tỉnh được thành lập, đóng tại ngã tư Yên Khê. Ủy ban hành chính thành phố đã dời ra ngoại thành. Một bộ phận nhân dân đã được tản cư. Trên những con đường nhỏ từ chợ Cồn đi chợ Mới, từ ngã năm lên Sở Tám Gian... mọc lên những chướng ngại vật. Các cầu quan trọng Thủy Tú, Kỳ Lam, Cẩm Lệ, Câu Lâu, Vĩnh Điện... đều đã có kế hoạch phá hoại. Những cơ sở sản xuất vũ khí đều được chuyến đến nơi an toàn. Ta cũng đưa một số cán bộ đi chuẩn bị cơ sở hậu phương, xây dựng căn cứ địa.

Về mặt trận địch vận, ta cũng đã in truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Các em thiếu nhi dùng truyền đơn đó gói bánh mì bán cho bọn chúng. Bắt được truyền đơn, bọn sĩ quan địch đã đưa đến kiện tại cơ quan Liên kiểm quân sự Việt - Pháp.

Về cơ sở ngầm, ta cũng đã đưa người của ta vào làm bồi bếp cho bọn sĩ quan địch để chờ cơ hội ám hại chúng ở ngoại vi thành phố dân chúng đã được lệnh chuẩn bị tản cư, làm vườn không nhà trống.

Lực lượng vũ trang của ta, Tiểu đoàn 17 và Tiểu đoàn 18 đã phối hợp với tự vệ Thành triển khai đội hình trên các đường phố chính. Ở các công sở quan trọng của ta, ngã năm, nhà máy đèn, nhà ga. Một số bộ phận quân ta, ban đêm đã vào tận sào huyệt địch: sân bay, đồn, trại... và luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Tình hình nghiêm trọng như thế, song cơ quan Liên kiểm quân sự vẫn còn hoạt động, bộ đội ta và quân Pháp ban đêm vẫn đi tuần như thường lệ.

Ngày 15 tháng 12 năm 1946, tôi đi tây bắc Hòa Vang, Nghi An, Cẩm Lệ, Thanh Quýt để kiểm tra kế hoạch tác chiến và kế hoạch phá hoại hệ thống cầu. Đến ngã tư Yên Khê, tôi gặp các đồng chí trong Ủy ban Quân sự đang họp. Cuộc họp quan trọng này có mặt các đồng chí: Trương Quang Giao, Vũ Khương Ninh, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Thúy, Đàm Quang Trung, v.v... đã quyết định một số phương hướng công tác như sau:

- Tích cực và khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng đợi lệnh tiến công tiêu diệt địch, nhưng hết sức tránh khiêu khích.

- Chuẩn bị điều kiện rút về nông thôn xây dựng căn cứ địa để kháng chiến lâu dài.

Diễn biến của quá trình kháng chiến ở Quảng Nam - Đà Nẵng

Hơn 10 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Nguyễn Chánh và anh Cao Văn Khánh ở Quân khu nói chuyện bằng điện thoại với chúng tôi đại để ra lệnh nổ súng tấn công địch.

Ngay sau đó, chúng tôi họp tại ngã tư Yên Khê, có mặt các đồng chí: Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Đình Tri, Đàm Quang Trung, Nguyễn Bá Phát, Trần Thùy, Nguyễn Hữu Thành... để quyết định một số vấn đề cụ thể:

1. Đúng 12 giờ đêm nổ súng đánh chiếm sân bay nhà bọn Pháp kiều tại ngã năm làm hiệu lệnh cho c nơi khác tấn công địch.

2. Đổi Trung đoàn bộ Trung đoàn 96 lên phía Khánh Sơn, còn Trung đoàn bộ 93 thì vẫn bố trí phía trong Cẩm Lệ.

3. Ra lệnh phá các cầu quan trọng, chặt cây ngăn đường và sơ tán những ai còn trong thành phố.

Trong lúc chúng tôi đang họp thì anh Hà Văn Lâu điện vào cho biết Huế đã nổ súng và nhờ phá sập cầu Thủy Tú.

Thế là mệnh lệnh tấn công tiêu diệt địch đã lan ra, lực lượng của ta đã triển khai và bố trí ở những nơi đã định. Một số bộ phận đã bí mật vào tận sào huyệt địch. Tất cả đều sẵn sàng chờ mệnh lệnh hành động.

Nhưng mãi đến 6 giờ sáng mà vẫn chưa nghe súng lệnh nổ, các bộ phận vào tận doanh trại, đồn bốt địch đã rút về.

Sáng ra thấy đường phố vắng bóng người, nhiều chướng ngại vật mọc lên, bọn địch hoảng hốt quay điện thoại gọi cơ quan Liên kiểm quân sự, nhưng ta đã rút đi rồi.

Lúc này xe lửa không chạy nữa, ta cho ôtô chạy ra dùng địa lôi phá cầu Thủy Tú để làm hiệu lệnh.

Đến 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12, tiếng súng nổ ở gần nhà máy đèn cũng trong lúc này tự vệ công nhân đã dùng bom phá hỏng nhà máy đèn. Thế là cuộc kháng chiến bắt đầu.
Diễn biến chiến sự trong 3 ngày đầu đánh nhau với địch trong thành phố
Trong ngày đầu (20-12-1946) để gỡ thế bao vây, địch tiến đánh ta trên 5 trục lớn: Mũi đánh lên nhà ga, mũi đánh lên cầu vồng, mũi đánh lên đường Con Gà (qua ngã năm), mũi từ nhà máy đèn đánh lên cơ quan Liên kiểm quân sự và mũi từ nhà Morin-surim đánh lên Cổ Viện Chàm, sân bay. Địch tiến đến đâu đều bị quân ta chặn đánh. Quân ta ở trên nhà gác ném lựu đạn xuống đường gây cho địch nhiều thương vong. Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang rền trong thành phố, những vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ... đều được vứt ra đường làm chướng ngại vật.

Đồng bào ta còn lại trong thành phố đều được đưa đi tản cư theo 4 hướng đã chuẩn bị trước: tây bắc Hòa Vang, Cẩm Lệ, Túy Loan, Điện Ngọc.

Trong ngày thứ hai (21-12-1946) địch cố giải tỏa thành phố, còn ta thì ra sức giữ chân địch lại. Về phía tây chúng tiến vào nhà ga, chợ Cồn. Mũi phía nam đánh lên chợ Mới Bình Hòa. Chiến sự diễn ra rất ác liệt. Địch chết rất nhiều, ta thương vong cũng khá. Trong lúc đó pháo địch ở hầm tàu bắn để uy hiếp tinh thần của quân và dân ta.

Qua ngày thứ ba (22-12-1946), địch và ta còn chạm súng ở phía tây thành phố. Chúng tập trung lực lượng đánh lên phía sân bay, gặp Tiểu đoàn 17 chặn đánh rất ác liệt. Sau ngày này, bọn địch ở thành phố đã liên lạc với sân bay, còn ta thì bị dạt ra ngoại vi (từ ngã tư Yên Khê, Nghi An, Phong Lệ xuống phía Đò Xu, An Hải).

Thế là sau 3 ngày kịch chiến, tuy địch đã giải tỏa thành phố và liên lạc với sân bay, song chúng đã bị tổn thất khá nặng. Đó là điều mà địch không lường trước được.

Lúc này thế trận của quân ta bố trí lại như sau: Tiểu đoàn 17 đóng ở Phong Lệ, Nghi An; Tiểu đoàn 18 đóng ở Hòa Mỹ, ngã tư Thanh Khê; Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một đại đội đóng về phía Đa Phước và một đại đội đóng phía đèo Hải Vân.

Trong thời gian từ 13-12-1946 đến 7-1-1947, ban ngày địch đánh ra phía ngã tư Yên Khê, ta dùng chiến thuật di động phòng ngự địa thế có lợi để chặn đánh địch, tối đến chúng lại rút về thành thì ta lại theo chân địch để tiêu hao sinh lực địch. Có lần ta đã vào nội thành đốt nhà ga, đánh địa lôi diệt xe địch.

Lúc này viện binh của địch đến Đà Nẵng, máy bay của chúng bắt đầu xuất hiện trên mặt trận, đại bác địch ở hầm tàu bắn lên tới tấp, tình hình chiến Sự thêm gay go ác liệt hơn. Tuy thế, trong suốt 16 ngày qua, ta và địch vẫn còn ở thế trận: địch tiến ta lui, địch lui ta tiến.

Để phá thế trận giằng co nói trên và bao vây tiêu diệt quân ta, ngày 7 tháng 11 năm 1947, địch đổ bộ lên vùng Phú Lộc, đánh gọng kìm chặn phía Đa Phước vô Đà Sơn, Đại La, đồng thời ở phía chính diện, chúng mở 3 mũi tấn công ta. Một mũi theo đường quốc lộ tiến lên Hòa Mỹ, một mũi đánh lên Nghi An và một mũi về phía Hòa An. Thế là trước mặt và sau lưng ta đều có giặc. Suốt ngày này, chiến sự diễn ra rất ác liệt, địch tiến vào đều bị ta đánh bật ra. Quân ta giữ vững vị trí chiến đấu cho đến khi được lệnh rút.

Sau trận này, địch đã giải tỏa ngoại vi thành phố, bao gồm: ngã tư Yên Khê, Hòa Mỹ, Phong Lệ, Thạch Nham, núi Phước Tường, Đại La, Đa Phước, Nam Ô, Liên Chiểu, Đồn Nhứt. Bọn địch chiếm giữ ở những nơi này nhằm bảo vệ thành phố đề phòng quân ta đánh vào hậu cứ của chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện đánh ra Thừa Thiên để giải vây cho Huế.

Hàng ngày, địch nống ra đánh lên các hướng Đại La, Thạch Nham, An Ngãi... còn ta thì sau khi rút ra giữ thế chặn địch lại, Tiểu đoàn 17 đóng từ Cẩm Lệ, Thạch Nham, Nghi An, Phước Tường đến Đại La; Tiểu đoàn 18 ở về phía Tùng Sơn, An Ngãi; Tiểu đoàn 19 vẫn đóng phía đèo Hải Vân, Nam Ô, Trung Sơn, Quan Nam. Một mặt ta lợi dụng địa hình lập những phòng tuyến để chặn địch lại, mặt khác, ban đêm ta cho một số bộ phận thọc vào thành phố, khu tây Hòa Vang để tiêu hao sinh lực địch. Sân bay Đà Nẵng bị ta đánh nhiều lần, có lần ta nã đại bác 75 ly thu được của Pháp vào sân bay, gây cho địch một số thiệt hại. Ta còn lợi dụng đường sắt chạy vào sân bay cho đầu máy chạy kéo theo một toa chở quả thủy lôi đã bấm giờ nổ. Nhưng do trình độ kỹ thuật còn non, tính toán chưa chính xác, cho nên chưa đến nơi thủy lôi đã nổ không gây thiệt hại gì cho địch.

Số tự vệ công nhân sau khi rút ra ngoài, đã hình thành một tiểu đoàn đóng phía Đông Sơn, An Lợi và thường đột nhập vào thành phố quấy rối địch. Dân quân du kích ngoại vi thành phố phối hợp với bộ đội diệt trừ một số tên tay sai đắc lực của địch.

Trong thời gian này, đồng bào ở nội thành rút ra và ở vùng Hòa Vang - Điện Bàn đã hăng hái tham gia phá đường, cắt dây điện thoại, tiếp tế cứu thương, ủy lạo bộ đội, v.v... đồng bào còn giúp bộ đội đào giao thông hào, xây dựng công sự dựng chướng ngại vật. Điều đó nói lên, ngay từ đầu, cuộc kháng chiến của ta chống bọn xâm lược Pháp đã mang tính chất nhân dân.

Đi đôi với các hoạt động trên, ta tiếp tục xây dựng các chiến khu ở miền Tây (Trung Man) mở 3 con đường (một liên lạc với Thừa Thiên, một với Hạ Lào và một đi về phía nam tỉnh nhà).

Sau khi đã chiếm được các vị trí phía tây và thành phố Đà Nẵng, hoạt động chủ yếu của địch lúc này là dồn lực lượng thông đèo Hải Vân và giải vây cho Huế. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau khi được tăng quân, địch tiến đánh Thủy Tú, đổ bộ lên Liên Chiểu, Hải Vân. Về sau địch phải mở thêm một mũi nữa ở phía Lăng Cô đánh trở vào mới giải tỏa được đèo Hải Vân. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, Tiểu đoàn 19 do đồng chí Cương chỉ huy đã đánh trận giao thông đầu tiên trên đèo tiêu diệt cả đoàn xe địch.

Ngay sau khi liên lạc với Thừa Thiên, địch huy động hải lục không quân mở cuộc tấn công quy mô nhằm đánh bật ta ra xa thành phố và chiếm vùng đất đai giàu có của tỉnh nhà. Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 6 năm 1947, địch lo củng cố hậu phương, thành lập tòa Đốc lý Đà Nẵng, tổ chức sở mật thám liên bang, ty cảnh sát, lập bang tá ở Hội An, trưởng và phó ban hội tề ở Vĩnh Điện, bắt đồng bào phải đi sửa đường, mua chuộc đồng bào hồi cư. Ta đưa cán bộ trở về củng cố chính quyền, gây lại sự hoạt động của các giới, xây dựng lại dân quân du kích. Các đội biệt động của Hòa Vang, Điện Bàn và dân quân Hội An đã bắt đầu hoạt động.

Còn lực lượng vũ trang của ta, sau khi rút khỏi thế gọng kìm bao vây của địch, thì hình thành một thế trận khác. Tiểu đoàn 17 ở hướng Đại Mỹ (Đại Lộc), Tiểu đoàn 18 lên khúc An Lợi, Phú Túc, Tiểu đoàn 19 rút lên phía Phó Nam, Nam Yên để uy hiếp lại đường đèo Hải Vân và Nam Ô. Hoạt động chủ yếu cua ta lúc này là đánh giao thông. Nhiều trận phục kích đánh xe địch đã diễn ra trên đường Vĩnh Điện - Bình Long. Trận đánh giao thông trên đèo Hải Vân lần thứ hai (23-6-1947) tiêu diệt đoàn xe địch chở đầy lính lê dương trong đó có tên quan năm Roger (chỉ huy miền Trung Đông Dương) vang dội toàn quốc.

Do có thành tích tiêu diệt địch, cho nên quân và dân tỉnh nhà được đồng chí Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ Trung ương tặng lá cờ có thêu 2 chữ “Giữ vững” và Trung đoàn 96 được vinh dự giữ lá cờ đó, vì đã lập được nhiều chiến công.

Đến tháng 8 năm 1947, để tiêu diệt chủ lực ta và đẩy quân ta lên núi, địch tập trung lực lượng tiến công ta trên mấy mũi: mũi tiến lên Phò Nam, Nam Yên; mũi lên phía Ngọc Sơn, Phú Túc, mũi đánh lên huyện Đại Lộc, Hà Nha, qua Phú Gia; mũi từ Tây Nguyên kéo xuống Thạnh Mỹ, Hội Khách; mũi Tây Nguyên về mũi Đại Lộc gặp nhau tại Hội Khách.

Để đối phó lại, ta chủ trương cho một bộ phận vừa đánh vừa rút lên phía Khe Dong, Phú Túc, Phú Buôn, Đồng Nghệ, An Điềm. Bộ phận còn lại thọc sâu vào vùng địch để hoạt động. Một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 17 từ phía nam sông Thu Bồn rút về Trúc Hà, Đại Lãnh rồi tiến xuống vùng Ái Nghĩa, Phước Hiệp. Một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 18 thọc xuống phía Túy Loan, Thạch Nham vùng Xuân Thiều, Quan Nam. Trung đoàn 96 đóng phía tây nam Bà Nà.

Các bộ phận lên núi đã khắc phục khó khăn, gian khổ làm được một số việc đáng kể, phát rẫy trồng màu, khai thông đường ra Thừa Thiên, giúp đồng bào tản cư, tăng gia sản xuất ổn định đời sống.
Lúc này, tình hình ở phía nam Thừa Thiên gặp nhiều khó khăn, thi hành chủ trương của Tỉnh ủy, ta đã giúp đỡ tỉnh bạn một số vật dụng cần thiết (quần áo, lương thực, thuốc men...) và nhất là đưa một số cán bộ người gốc Thừa Thiên về quê tham gia chiến đấu.
Khoảng tháng 10 năm 1947, quân số của địch trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng có một trung đoàn, chia ra 4 tiểu khu Tùng Sơn, Liên Chiểu, Vĩnh Điện, Ái Nghĩa. Chúng đã bắt đầu đóng một số đồn lẻ và lập tề ở một số nơi.
Lúc này, quân ta cũng chia 2 bộ phận, bộ phận lớn dựa vào rừng núi và vùng giáp ranh từ Phò Nam đến Đại Lộc để hoạt động. Bộ phận còn lại thọc xuống vùng Điện Tiến, Hòa Tiến, Trúc Bàu, Hội Vực… phối hợp với lực lượng bán vũ trang để tiêu hao sinh lực địch và diệt tề trừ gian.

(sưu tầm)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn