Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát (1921 - 1993), tên gọi thân thương là anh Bảy Phát, một người con ưu tú của quê hương xứ Quảng bất khuất, kiên trung. Ông nguyên là Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Quân khu Đông Bắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Hải sản.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 thành Công, ông hăng hái gia nhập hàng ngũ quân đội Cách mạng, trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, khói lửa chiến tranh đã đào luyện ông từ một người lính can trường, trở thành một vị chỉ huy tài trí, mưu lược, quyết đánh và biết thắng kẻ thù. Tên tuối Nguyễn Bá Phát gắn liền với những chiến công vang dội của quân và dân Liên khu 5 thời kỳ chống Pháp, cũng như những chiến công oai hùng của quân và dân miền Bắc thời đánh Mỹ. Những địa danh nối tiếng như: đèo Hải Vân, Xuân Thiều, Gò Cà, Thanh Quýt, sông Trường Định, v. v…. mãi mãi ghi sâu chiến công, trí thông minh và lòng quả cảm tuyệt vời của Nguyễn Bá Phát. Đặc biệt, Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát là người có công lớn trong việc đặt nền móng xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam. Chiến công vang dội của bộ đội Hải quân (1964) đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ xâm phạm lãnh hải; huyền thoại đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, với những đoàn tàu không số vận chuyến vũ khí cho chiến trường miền Nam; việc rà phá thủy lôi chống phong tỏa cảng Hải Phòng, v. v... Sẽ mãi là niềm tự hào trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát vinh dự được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học quân sự đợt đầu tiên. Tên ông đã được đặt cho một đường phố chính ở thành phố Đà Nẵng, quê hương ông. Kỷ niệm 14 năm ông đi xa, nhiều tướng lĩnh, đồng chí và bạn bè ông đã phối hợp với Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tổ chức sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn sách “Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát, vị tướng tài trí”. Với tình cảm chân thành, với lối viết mộc mạc, giản dị, các tác giả đã góp phần khắc họa chân dung Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát một cách trung thực, sinh động và hấp dẫn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN | |
Logged
|
|
|
|
loiho000 Thành viên  Bài viết: 162 | 
| Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2017, 07:53:06 pm » | MỘT NGƯỜI CON TIÊU BIỂU CỦA LIÊN KHU 5, MỘT VỊ TƯỚNG TÀI TRÍĐại tướng Võ Nguyên Giáp Đồng chí Nguyễn Bá Phát đã giác ngộ cách mạng tham gia tự vệ bí mật của Việt Minh từ tháng 6 năm 1945, tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, gia nhập Vệ quốc đoàn, xung phong Nam tiến là đội viên rồi đội trưởng thủy đội Bạch Đằng, Qui Nhơn (9-1945).
Sau ngày toàn quốc kháng chiến đồng chí đã lăn lộn chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5 qua các cương vị: cán bộ Phòng Tham mưu Liên khu, Phó chỉ huy quân sự mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, chỉ huy trưởng mặt trận Ban Mê Thuột - Đường 14, là trung đoàn trưởng các trung đoàn 96, 93, 108 chủ lực Liên khu 5. Từ năm 1951 đến 1954 đồng chí là Tham mưu phó, rồi Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Liên khu 5, Tham mưu trưởng Mặt trận bắc Tây Nguyên. Đồng chí đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy các đơn vị lập được nhiều chiến công vẻ vang góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Bá Phát đã trải qua các cương vị: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 305 (1954), Cục phó Cục Phòng thủ bờ biển (1955), Cục phó Cục Hải quân (1959), Đại tá Tư lệnh Hải quân (1964), tháng 3 năm 1965 Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân cho đến năm 1976. Đồng chí Nguyễn Bá Phát là người có nhiều công lao xây dựng bộ đội Hải quân từ đầu cho đến khi trở thành Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam phát triển vững mạnh. Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ Tư lệnh lãnh đạo chỉ huy Quân chủng Hải quân vượt qua mọi khó khăn, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, lập được nhiều chiến công oanh liệt, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát nguyên Tư lệnh Hải quân là một người cộng sản trung kiên, một người con trung hiếu của Liên khu 5, một vị tướng tài trí của quân đội ta, có nhiều công lao đối với Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam. Tôi nhớ mãi Thiếu tướng Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát, người đồng chí thân thiết mà tôi luôn tin tưởng mỗi lần trao nhiệm vụ cho đồng chí. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi lời thăm hỏi ân cần đến gia đình đồng chí.
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2007 Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP | |
Logged
|
|
|
|
loiho000 Thành viên  Bài viết: 162 | 
| Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2017, 08:05:10 pm » | ĐỒNG CHÍ NGUYỄN BÁ PHÁT NÓI VỀ ĐƠN VỊ VÀ BẢN THÂN MÌNH Theo yêu cầu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh nhà, với trách nhiệm của một cán bộ bản địa chuyên trách về quân sự tại mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, trong suối thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp, tôi xin cung cấp một số tài liệu quân sự mà tôi biết và bản thân có tham gia. Trước khi đi vào nội dung chủ yếu của vấn đề, tôi xin phác qua quá trình tham gia cách mạng và một số công tác chính của tôi trong thời kỳ đó.
Tháng 6 năm 1945, tôi giác ngộ cách mạng được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc và tự vệ bí mật địa phương. Sau đó, tôi được cử đi học lớp quân sự. Học xong tôi được cấp trên chỉ định làm chỉ huy trưởng lực lượng tự vệ tổng Thái Hòa. Cách mạng tháng Tám năm 1945, tôi tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở tổng. Chẳng bao lâu sau, tôi về xã làm ủy viên quân sự. Lúc này anh ruột và chị ruột tôi cũng có chân trong Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời của xã. Tháng 9 năm 1945, tôi xin gia nhập Vệ quốc đoàn tại Đà Nẵng và cũng ở đây, tôi tình nguyện tham gia thủy đội Bạch Đằng. Đến tháng 10 năm 1945, cả đơn vị này đi Nam tiến trong khí thế cách mạng đang lên cao. Đơn vị của chúng tôi vào đến Qui Nhơn thì dừng lại để luyện tập. Lúc này bọn Nhật còn đóng ở đây để chờ quân Anh ra giải giáp. Sự kiện ngày 23 tháng 5 năm 1945 ở Nam Bộ đã cho ta thấy toàn bộ âm mưu của bọn đế quốc. Để ngăn chặn tai họa đó có thể diễn ra ở khu vực này, đơn vị của chúng tôi được lệnh của cấp trên tiến công quân Nhật đóng tại Qui Nhơn. Trận thử lửa đầu tiên này đã đưa đơn vị của chúng tôi vào chi viện cho mặt trận Nha Trang, sau khi mặt trận này bị vỡ, tôi trở ra Bình Định và Phú Yên. Lúc này tôi được đề bạt làm chỉ huy phó chi đội Phan Đình Phùng. Khoảng tháng 5 năm 1946, tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng mặt trận Buôn Ma Thuột. Cũng trong thời gian này tôi gặp Tiểu đoàn Phan Thanh tại mặt trận Bôkeo. Trong lúc Hội nghị Phông-ten-nơ-bờ-lô đang họp, thì quân Pháp từ Buôn Ma Thuột tiến công ra Pleiku và Kon Tum - Đại đoàn 23 do đồng chí Đào Văn Trương làm Tư lệnh trưởng, đồng chí Trần Lương làm Chính ủy và tôi làm Tham mưu trưởng được lệnh rút về Bình Định để chỉnh đốn lại lực lượng. Do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về nhận nhiệm vụ tại Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ, chuyên trách công tác phá hoại. Lúc này, tôi có dịp về tỉnh nhà gặp Ủy ban kháng chiến Quảng Nam - Đà Nẵng để bàn kế hoạch phá hoại hệ thống cầu dọc quốc lộ số 1 và đường sắt. Khoảng tháng 10 năm 1946, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy mặt trận An Khê. Đầu tháng 12 năm 1946, sau khi gặp đồng chí Phạm Văn Đồng tại tỉnh Quảng Ngãi, tôi được điều ra mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng làm chỉ huy phó Ban Quân sự tỉnh. Ủy ban này do đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ làm Chính ủy. Sau tiếng súng kháng chiến nổ, ngoài chức trách Chỉ huy phó Ủy ban Quân sự, tôi còn kiêm nhiệm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 96. Đến tháng 1 năm 1947, Trung đoàn này được lệnh rút vào Quảng Ngãi để củng cố lực lượng, sau thời gian chiến đấu dũng cảm nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù. Mùa hè năm 1948, theo lệnh của cấp trên, tôi đưa 2 Tiểu đoàn khá mạnh của Trung đoàn 96 ra hoạt động Quảng Nam - Đà Nẵng. Khoảng tháng 10 năm 1948, tôi thay đồng chí Đàm Quang Trung làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 kiêm Chỉ huy trướng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng. Đầu năm 1950, tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng Trung đoàn 108 (đơn vị chủ lực của Quân khu). Cuối năm 1950, Trung đoàn này được lệnh ra hoạt động ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau một thời gian hoạt động ở tỉnh nhà, đơn vị của chúng tôi lại rút vào Quảng Ngãi rồi chuyển lên Tây Nguyên tiêu diệt tiểu khu Konplong, mở đầu chiến thuật đánh công kiên trên chiến trường Liên khu 5. Cũng trong lúc này, Tiểu đoàn 59 được điều ra Quảng Nam - Đà Nẵng đánh sụp một lúc 8 tháp canh, mở ra phương hướng phá vỡ hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch. Năm 1951, do nhu cầu công tác, cấp trên điều tôi về làm Tham mưu phó Quân khu. Giữa năm 1952, tôi trở ra Quảng Nam - Đà Nẵng cũng với một Trung đoàn chủ lực mở chiến dịch hè, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, và thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở tỉnh nhà tiến lên. Chiến dịch này do đồng chí Búi San làm chính ủy, đồng chí Trần Lê phụ trách chủ nhiệm chính trị. Năm 1954, tôi được đề bạt Tham mưu trưởng Quân khu cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Một số đặc điểm của tỉnh nhà trước khi tiếng súng kháng chiến bùng nổ Quảng Nam - Đà Nẵng là một trong những tỉnh lớn ở Trung Bộ, dân số đông, tài nguyên phong phú. Riêng Đà Nẵng một thành phố nhượng địa của Pháp trước kia - chiếm một vị trí khá quan trọng về mặt quân sự ở miền Trung Đông Dương. Vì nó là hải cảng lớn và là căn cứ đầu cầu để triển khai lực lượng đánh chiếm Trị Thiên, và một số tỉnh của Khu 5, Tây Nguyên và Hạ Lào. Một thành phố nằm trên vĩ tuyến 16 này đã chứng kiến bao sự kiện thay đổi: hết Pháp đến Nhật, Nhật đi quân Tưởng rồi bọn Pháp quay trở lại. Một số phần tử phản cách mạng và một số tên tay sai cũng ngo ngoe ngóc đầu dậy, nhưng đều bị ngọn triều cách mạng cuốn phăng đi. Nhân dân tỉnh nhà có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập ở khắp nơi và ngày càng vững mạnh. Chính quyền đó có đầy đủ uy thế và nghị lực để huy động quần chúng bảo vệ thành quả cách mạng vừa mới giành được. Trình độ giác ngộ của quần chúng nhân dân khá cao, ai nấy đều gia nhập các tổ chức cứu quốc, tham gia dân quân tự vệ, một lòng một dạ bảo vệ và xây dựng chính quyền của mình. Lực lượng quân sự của ta ở đây cũng khá mạnh ngoài Trung đoàn 93 của tỉnh nhà, cấp trên đã điều ra một trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 96). Về trang bị và kỹ thuật tác chiến tuy còn kém, nhưng tinh thần chiến đấu thì rất cao. Do vị trí rất quan trọng của Quảng Nam – Đà Nẵng (đặc biệt là Đà Nẵng) cho nên về phía địch, chúng tìm cách gia tăng lực lượng, tạo mọi điều kiện để đánh chiếm. Về phía ta thì Trung ương, Xứ ủy và Liên khu ủy cũng đặc biệt coi trọng, tăng cường cán bộ chỉ đạo về chính trị và quân sự, đưa Trung đoàn 96 ra làm nhiệm vụ tiếp phòng quân, hằng ngày, hằng giờ có ý kiến chỉ đạo đối phó với mọi tình huống xảy ra. Qua một số tình hình đặc điểm nói trên, thấy rõ tính chất gay go và quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa ta và địch và cũng qua đó làm nổi lên một số điều kiện thuận lợi và một số yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp.
* * * Tình hình ở những nơi có quân đội Pháp đóng ngày một căng thẳng. Sau Tạm ước 14-9-1946, mức độ căng thẳng lại tăng lên, nghiêm trọng nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn. Đà Nẵng cũng nằm trong tình hình chung đó. Sau khi nhận huấn thị của đồng chí Phạm Văn Đồng, đầu tháng 12 năm 1946 tôi nhận lệnh về tỉnh nhà nhận công tác. Qua tìm hiểu tình hình ở Ty Liên kiểm quân sự Việt - Pháp, tôi mới thấy hết trách nhiệm nặng nề của mình. Lúc bấy giờ, bọn Pháp đóng quân ở Trẹm, sân bay Tháp Chàm thành phố Đà Nẵng. Bọn Pháp kiều thì ở đồn về phía ngã 5. Quân số của chúng cứ một ngày tăng lên, đến trước ngày tác chiến lực lượng của chúng có khoảng 5.000 tên trang bị vũ khí hiện đại. Còn ta thì có quân tiếp phòng đóng xen kẽ với chúng. Tiểu đoàn 17 đóng tại Bình Hòa (giữa sân bay và thành phố). Tiểu đoàn 18 đóng ở phía nhà ga. Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một bộ phận đóng phía đèo Hải Vân và một bộ phận đóng tại Nghi An (phía tây sân bay). Thế trận đôi bên đều ở tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Ngoài những âm mưu và thủ đoạn chính trị như: gây cơ sở tình báo, dùng tiền tài mua chuộc, lôi kéo những tên tay sai cũ... chúng còn tăng quân số đòi triển khai lực lượng gây ra nhiều vụ khiêu khích, tạo điều kiện để tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Nghiêm trọng nhất là vụ xé cờ của ta tại trụ sở mặt trận Việt Minh thành phố, gây nên sự phẫn uất cao độ trong quần chúng nhân dân. Trước tình hình đó, thi hành mật lệnh của cấp trên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Thành ủy, quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã khẩn trương và tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc kháng chiến. Ủy ban Quân sự tỉnh được thành lập, đóng tại ngã tư Yên Khê. Ủy ban hành chính thành phố đã dời ra ngoại thành. Một bộ phận nhân dân đã được tản cư. Trên những con đường nhỏ từ chợ Cồn đi chợ Mới, từ ngã năm lên Sở Tám Gian... mọc lên những chướng ngại vật. Các cầu quan trọng Thủy Tú, Kỳ Lam, Cẩm Lệ, Câu Lâu, Vĩnh Điện... đều đã có kế hoạch phá hoại. Những cơ sở sản xuất vũ khí đều được chuyến đến nơi an toàn. Ta cũng đưa một số cán bộ đi chuẩn bị cơ sở hậu phương, xây dựng căn cứ địa. Về mặt trận địch vận, ta cũng đã in truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Các em thiếu nhi dùng truyền đơn đó gói bánh mì bán cho bọn chúng. Bắt được truyền đơn, bọn sĩ quan địch đã đưa đến kiện tại cơ quan Liên kiểm quân sự Việt - Pháp. Về cơ sở ngầm, ta cũng đã đưa người của ta vào làm bồi bếp cho bọn sĩ quan địch để chờ cơ hội ám hại chúng ở ngoại vi thành phố dân chúng đã được lệnh chuẩn bị tản cư, làm vườn không nhà trống. Lực lượng vũ trang của ta, Tiểu đoàn 17 và Tiểu đoàn 18 đã phối hợp với tự vệ Thành triển khai đội hình trên các đường phố chính. Ở các công sở quan trọng của ta, ngã năm, nhà máy đèn, nhà ga. Một số bộ phận quân ta, ban đêm đã vào tận sào huyệt địch: sân bay, đồn, trại... và luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tình hình nghiêm trọng như thế, song cơ quan Liên kiểm quân sự vẫn còn hoạt động, bộ đội ta và quân Pháp ban đêm vẫn đi tuần như thường lệ. Ngày 15 tháng 12 năm 1946, tôi đi tây bắc Hòa Vang, Nghi An, Cẩm Lệ, Thanh Quýt để kiểm tra kế hoạch tác chiến và kế hoạch phá hoại hệ thống cầu. Đến ngã tư Yên Khê, tôi gặp các đồng chí trong Ủy ban Quân sự đang họp. Cuộc họp quan trọng này có mặt các đồng chí: Trương Quang Giao, Vũ Khương Ninh, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Thúy, Đàm Quang Trung, v.v... đã quyết định một số phương hướng công tác như sau: - Tích cực và khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng đợi lệnh tiến công tiêu diệt địch, nhưng hết sức tránh khiêu khích. - Chuẩn bị điều kiện rút về nông thôn xây dựng căn cứ địa để kháng chiến lâu dài.
| |
Logged
|
|
|
|
loiho000 Thành viên  Bài viết: 162 | 
| Re: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN BÁ PHÁT - VỊ TƯỚNG TÀI TRÍ« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2017, 08:09:49 pm » | Diễn biến của quá trình kháng chiến ở Quảng Nam - Đà Nẵng Hơn 10 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Nguyễn Chánh và anh Cao Văn Khánh ở Quân khu nói chuyện bằng điện thoại với chúng tôi đại để ra lệnh nổ súng tấn công địch. Ngay sau đó, chúng tôi họp tại ngã tư Yên Khê, có mặt các đồng chí: Huỳnh Ngọc Huệ, Trần Đình Tri, Đàm Quang Trung, Nguyễn Bá Phát, Trần Thùy, Nguyễn Hữu Thành... để quyết định một số vấn đề cụ thể: 1. Đúng 12 giờ đêm nổ súng đánh chiếm sân bay nhà bọn Pháp kiều tại ngã năm làm hiệu lệnh cho c nơi khác tấn công địch. 2. Đổi Trung đoàn bộ Trung đoàn 96 lên phía Khánh Sơn, còn Trung đoàn bộ 93 thì vẫn bố trí phía trong Cẩm Lệ. 3. Ra lệnh phá các cầu quan trọng, chặt cây ngăn đường và sơ tán những ai còn trong thành phố. Trong lúc chúng tôi đang họp thì anh Hà Văn Lâu điện vào cho biết Huế đã nổ súng và nhờ phá sập cầu Thủy Tú. Thế là mệnh lệnh tấn công tiêu diệt địch đã lan ra, lực lượng của ta đã triển khai và bố trí ở những nơi đã định. Một số bộ phận đã bí mật vào tận sào huyệt địch. Tất cả đều sẵn sàng chờ mệnh lệnh hành động. Nhưng mãi đến 6 giờ sáng mà vẫn chưa nghe súng lệnh nổ, các bộ phận vào tận doanh trại, đồn bốt địch đã rút về. Sáng ra thấy đường phố vắng bóng người, nhiều chướng ngại vật mọc lên, bọn địch hoảng hốt quay điện thoại gọi cơ quan Liên kiểm quân sự, nhưng ta đã rút đi rồi. Lúc này xe lửa không chạy nữa, ta cho ôtô chạy ra dùng địa lôi phá cầu Thủy Tú để làm hiệu lệnh. Đến 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12, tiếng súng nổ ở gần nhà máy đèn cũng trong lúc này tự vệ công nhân đã dùng bom phá hỏng nhà máy đèn. Thế là cuộc kháng chiến bắt đầu.
Diễn biến chiến sự trong 3 ngày đầu đánh nhau với địch trong thành phố
Trong ngày đầu (20-12-1946) để gỡ thế bao vây, địch tiến đánh ta trên 5 trục lớn: Mũi đánh lên nhà ga, mũi đánh lên cầu vồng, mũi đánh lên đường Con Gà (qua ngã năm), mũi từ nhà máy đèn đánh lên cơ quan Liên kiểm quân sự và mũi từ nhà Morin-surim đánh lên Cổ Viện Chàm, sân bay. Địch tiến đến đâu đều bị quân ta chặn đánh. Quân ta ở trên nhà gác ném lựu đạn xuống đường gây cho địch nhiều thương vong. Tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang rền trong thành phố, những vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ... đều được vứt ra đường làm chướng ngại vật. Đồng bào ta còn lại trong thành phố đều được đưa đi tản cư theo 4 hướng đã chuẩn bị trước: tây bắc Hòa Vang, Cẩm Lệ, Túy Loan, Điện Ngọc. Trong ngày thứ hai (21-12-1946) địch cố giải tỏa thành phố, còn ta thì ra sức giữ chân địch lại. Về phía tây chúng tiến vào nhà ga, chợ Cồn. Mũi phía nam đánh lên chợ Mới Bình Hòa. Chiến sự diễn ra rất ác liệt. Địch chết rất nhiều, ta thương vong cũng khá. Trong lúc đó pháo địch ở hầm tàu bắn để uy hiếp tinh thần của quân và dân ta. Qua ngày thứ ba (22-12-1946), địch và ta còn chạm súng ở phía tây thành phố. Chúng tập trung lực lượng đánh lên phía sân bay, gặp Tiểu đoàn 17 chặn đánh rất ác liệt. Sau ngày này, bọn địch ở thành phố đã liên lạc với sân bay, còn ta thì bị dạt ra ngoại vi (từ ngã tư Yên Khê, Nghi An, Phong Lệ xuống phía Đò Xu, An Hải). Thế là sau 3 ngày kịch chiến, tuy địch đã giải tỏa thành phố và liên lạc với sân bay, song chúng đã bị tổn thất khá nặng. Đó là điều mà địch không lường trước được. Lúc này thế trận của quân ta bố trí lại như sau: Tiểu đoàn 17 đóng ở Phong Lệ, Nghi An; Tiểu đoàn 18 đóng ở Hòa Mỹ, ngã tư Thanh Khê; Tiểu đoàn 19 chia làm hai bộ phận: một đại đội đóng về phía Đa Phước và một đại đội đóng phía đèo Hải Vân. Trong thời gian từ 13-12-1946 đến 7-1-1947, ban ngày địch đánh ra phía ngã tư Yên Khê, ta dùng chiến thuật di động phòng ngự địa thế có lợi để chặn đánh địch, tối đến chúng lại rút về thành thì ta lại theo chân địch để tiêu hao sinh lực địch. Có lần ta đã vào nội thành đốt nhà ga, đánh địa lôi diệt xe địch. Lúc này viện binh của địch đến Đà Nẵng, máy bay của chúng bắt đầu xuất hiện trên mặt trận, đại bác địch ở hầm tàu bắn lên tới tấp, tình hình chiến Sự thêm gay go ác liệt hơn. Tuy thế, trong suốt 16 ngày qua, ta và địch vẫn còn ở thế trận: địch tiến ta lui, địch lui ta tiến. Để phá thế trận giằng co nói trên và bao vây tiêu diệt quân ta, ngày 7 tháng 11 năm 1947, địch đổ bộ lên vùng Phú Lộc, đánh gọng kìm chặn phía Đa Phước vô Đà Sơn, Đại La, đồng thời ở phía chính diện, chúng mở 3 mũi tấn công ta. Một mũi theo đường quốc lộ tiến lên Hòa Mỹ, một mũi đánh lên Nghi An và một mũi về phía Hòa An. Thế là trước mặt và sau lưng ta đều có giặc. Suốt ngày này, chiến sự diễn ra rất ác liệt, địch tiến vào đều bị ta đánh bật ra. Quân ta giữ vững vị trí chiến đấu cho đến khi được lệnh rút. Sau trận này, địch đã giải tỏa ngoại vi thành phố, bao gồm: ngã tư Yên Khê, Hòa Mỹ, Phong Lệ, Thạch Nham, núi Phước Tường, Đại La, Đa Phước, Nam Ô, Liên Chiểu, Đồn Nhứt. Bọn địch chiếm giữ ở những nơi này nhằm bảo vệ thành phố đề phòng quân ta đánh vào hậu cứ của chúng, đồng thời chuẩn bị điều kiện đánh ra Thừa Thiên để giải vây cho Huế. Hàng ngày, địch nống ra đánh lên các hướng Đại La, Thạch Nham, An Ngãi... còn ta thì sau khi rút ra giữ thế chặn địch lại, Tiểu đoàn 17 đóng từ Cẩm Lệ, Thạch Nham, Nghi An, Phước Tường đến Đại La; Tiểu đoàn 18 ở về phía Tùng Sơn, An Ngãi; Tiểu đoàn 19 vẫn đóng phía đèo Hải Vân, Nam Ô, Trung Sơn, Quan Nam. Một mặt ta lợi dụng địa hình lập những phòng tuyến để chặn địch lại, mặt khác, ban đêm ta cho một số bộ phận thọc vào thành phố, khu tây Hòa Vang để tiêu hao sinh lực địch. Sân bay Đà Nẵng bị ta đánh nhiều lần, có lần ta nã đại bác 75 ly thu được của Pháp vào sân bay, gây cho địch một số thiệt hại. Ta còn lợi dụng đường sắt chạy vào sân bay cho đầu máy chạy kéo theo một toa chở quả thủy lôi đã bấm giờ nổ. Nhưng do trình độ kỹ thuật còn non, tính toán chưa chính xác, cho nên chưa đến nơi thủy lôi đã nổ không gây thiệt hại gì cho địch. Số tự vệ công nhân sau khi rút ra ngoài, đã hình thành một tiểu đoàn đóng phía Đông Sơn, An Lợi và thường đột nhập vào thành phố quấy rối địch. Dân quân du kích ngoại vi thành phố phối hợp với bộ đội diệt trừ một số tên tay sai đắc lực của địch. Trong thời gian này, đồng bào ở nội thành rút ra và ở vùng Hòa Vang - Điện Bàn đã hăng hái tham gia phá đường, cắt dây điện thoại, tiếp tế cứu thương, ủy lạo bộ đội, v.v... đồng bào còn giúp bộ đội đào giao thông hào, xây dựng công sự dựng chướng ngại vật. Điều đó nói lên, ngay từ đầu, cuộc kháng chiến của ta chống bọn xâm lược Pháp đã mang tính chất nhân dân. Đi đôi với các hoạt động trên, ta tiếp tục xây dựng các chiến khu ở miền Tây (Trung Man) mở 3 con đường (một liên lạc với Thừa Thiên, một với Hạ Lào và một đi về phía nam tỉnh nhà). Sau khi đã chiếm được các vị trí phía tây và thành phố Đà Nẵng, hoạt động chủ yếu của địch lúc này là dồn lực lượng thông đèo Hải Vân và giải vây cho Huế. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau khi được tăn |
|
|