Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng – Người lính công binh Trường Sơn kiên cường, mở đường giữa mưa bom bão đạn
Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng (1946–2019), nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Binh đoàn 12, Phó chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, là một trong những cán bộ trưởng thành từ chiến trường Trường Sơn. Hơn 200 ngày liên tục bám đường, nhiều lần bị thương nhưng vẫn kiên cường hoàn thành nhiệm vụ, ông cùng đồng đội mở đường, phá bom, bảo đảm giao thông cho những đoàn xe chi viện miền Nam. Đặc biệt, trong một trận đánh tại dốc U Bò, ông đã dùng bộc phá phá chiếc xe chở đạn đang bốc cháy, kịp thời giải phóng mặt đường, giúp đoàn xe tiếp tục hành quân. Những chiến công ấy góp phần làm nên danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân được trao tặng cho ông năm 1973.

Người lính trưởng thành từ tuyến lửa Trường Sơn
Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng, tên thật là Nguyễn Văn Tòng, có nguyên quán tại xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nhưng sinh ra và lớn lên ở Lạng Sơn.
Năm 1965, sau khi học hết lớp 7, chàng trai trẻ Nguyễn Bá Tòng tình nguyện nhập ngũ. Ban đầu ông được biên chế vào đơn vị pháo cao xạ, sau đó chuyển sang huấn luyện bộ binh để vào chiến trường miền Nam.
Khi đặt chân lên tuyến đường Trường Sơn, ông được biên chế về Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98 công binh, Đoàn 559. Nhiệm vụ của đơn vị là mở đường, phá bom, san lấp hố bom và bảo đảm giao thông tại những trọng điểm ác liệt nhất.
Từ một chiến sĩ, ông từng bước trưởng thành qua các cương vị tiểu đội trưởng, trung đội trưởng rồi chính trị viên phó đại đội. Ở bất cứ vị trí nào, Nguyễn Bá Tòng cũng luôn có mặt tại những nơi gian khổ, nguy hiểm nhất.
Ông cùng đồng đội tháo gỡ bom mìn, san lấp hố bom, hạ độ cao những con dốc, mở rộng các cua đường hẹp và trực tiếp hộ tống xe qua trọng điểm.
“Bám đường” giữa mưa bom bão đạn
Đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh là một trong những chiến trường ác liệt nhất. Máy bay Mỹ liên tục đánh phá nhằm cắt đứt tuyến vận tải chiến lược nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam.
Nhưng với phương châm “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, Nguyễn Bá Tòng và đồng đội vẫn ngày đêm bám đường.
Có thời điểm ông liên tục làm việc 200 ngày không rời mặt đường, đạt ngày công và năng suất cao nhất đại đội.
Trong tháng 3-1970, ông liên tiếp lập nhiều chiến công.
Ngày 13-3-1970, một đoàn xe bị máy bay địch đánh trúng tại khu vực cây số 83. Chiếc xe đi đầu bị cháy nằm chắn ngang con đường hẹp, khiến khoảng 60 xe phía sau không thể tiến hoặc lùi.
Nguyễn Bá Tòng đã vác 40kg bộc phá, cùng đồng đội chạy 3km đến ứng cứu. Ông xung phong phá chiếc xe cháy để giải phóng mặt đường, giúp đoàn xe phía sau nhanh chóng thoát khỏi khu vực nguy hiểm.
Đêm 27-3-1970, một xe chở xăng tiếp tục bị máy bay địch đánh cháy. Trong lúc máy bay vẫn tiếp tục bắn phá, ông cùng lái xe cố gắng đưa xe ra khỏi khu vực nguy hiểm. Ông còn trực tiếp leo ra ngoài ca-bin, cùng lái phụ đạp những thùng xăng đang cháy xuống đường, cứu được chiếc xe.
Trong quá trình chiến đấu, Nguyễn Bá Tòng từng hai lần bị thương. Tuy nhiên, sau mỗi lần bị thương, ông vẫn bình tĩnh giữ vững vị trí, hoàn thành nhiệm vụ rồi mới đi điều trị.
Dùng bộc phá phá xe chở đạn, mở đường cho đoàn xe
Một trong những chiến công tiêu biểu nhất của Nguyễn Bá Tòng diễn ra tại dốc U Bò, cao khoảng 1.009m so với mực nước biển, gần ngã ba Chà Lỳ trên Đường 16.
Thời điểm đó, Bộ đội Trường Sơn đang tổ chức chiến dịch tổng công kích đợt 2 mùa khô năm 1971 nhằm bảo đảm chi viện cho Chiến dịch Đường 9-Nam Lào.
Đêm hôm ấy, đoàn xe chở đạn bắt đầu vượt dốc. Khi chiếc xe đi đầu vừa đổ dốc, máy bay AC-130 phát hiện và bắn trúng khiến chiếc xe bốc cháy. Người lái xe bị thương, trong khi tổ công binh lao ra cứu người và dập lửa nhưng cả bốn chiến sĩ đều bị thương.
Chiếc xe chở đầy đạn vẫn tiếp tục cháy. Đường lại hẹp, các xe phía sau không thể vượt qua.
Trong tình thế cấp bách, cấp trên lệnh cho Tiểu đội trưởng Nguyễn Bá Tòng mang bộc phá lên phá chiếc xe để giải phóng mặt đường.
Ông lập tức mang ba lô chứa khoảng 20kg bộc phá, lao lên dốc dưới làn đạn của máy bay địch.
Đến gần chiếc xe, ông phải đối mặt với một tình huống đặc biệt nguy hiểm: đây là xe của ta, chở đầy đạn cối và lương thực. Việc phá xe phải được tính toán để vừa bảo đảm an toàn, vừa không làm hư hỏng mặt đường.
Nguyễn Bá Tòng nhanh chóng buộc khối bộc phá vào cầu sau của xe, xử lý kíp nổ và kích hoạt khối thuốc trong điều kiện ngọn lửa đang bao trùm chiếc xe.
Sau khi kích nổ, ông chạy thoát khỏi khu vực nguy hiểm nhưng bị sức ép của vụ nổ hất xuống ta-luy.
Chiếc xe cháy bị phá khỏi mặt đường và rơi xuống vực, trong khi mặt đường vẫn được giữ nguyên, nhanh chóng được giải phóng.
Đoàn xe phía sau tiếp tục vượt dốc an toàn, kịp thời đưa đạn đến các đơn vị đang chiến đấu.
Nguyễn Bá Tòng bị ngất sau vụ nổ và được đưa về bệnh xá cấp cứu. Ngày hôm sau ông mới tỉnh lại. Dù chỉ bị xây xát nhẹ nhưng hai tai bị ù, điếc đặc do sức ép của vụ nổ.
Sau khoảng 10 ngày điều trị, ông xin trở về đơn vị tiếp tục nhiệm vụ.
Bị thương vẫn bình tĩnh chỉ huy đồng đội
Sau đó, Đại đội 6 được điều động đến khu vực Sê Băng Hiêng làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông.
Một lần, Nguyễn Bá Tòng được giao chỉ huy tổ đi lấy gạo và thực phẩm. Trên đường trở về, máy bay địch bất ngờ lao xuống bắn phá. Cả tổ phải nhanh chóng tìm nơi trú ẩn trong một hang đá nhỏ ven đường.
Ngay sau khi họ vừa đặt ba lô xuống, một quả bom nổ trên nóc hang.
Nhiều người bị thương. Nguyễn Bá Tòng cũng bị mảnh bom và đá làm bị thương ở chân, vai và bụng.
Tuy nhiên, ông vẫn tỉnh táo, bình tĩnh chỉ huy đồng đội tự băng bó cho nhau và chờ đơn vị đến ứng cứu vào sáng hôm sau.
Do vết thương nặng, ông được chuyển về Viện Quân y 59 điều trị 15 ngày. Sau này, một mảnh bom vẫn nằm lại trong xương bả vai ông và trở thành thương tích ông phải mang theo suốt phần đời còn lại.
Tận dụng cả những mảnh dù pháo sáng để dẫn đường
Một kỷ vật đặc biệt gắn với những năm tháng Trường Sơn của Nguyễn Bá Tòng là mảnh vải dù pháo sáng được lưu giữ tại Bảo tàng Hậu cần Quân đội.
Trong một đêm tháng 12-1969, khi đơn vị đang sửa đường, máy bay địch thả pháo sáng. Sau khi máy bay đi qua, những mảnh dù trắng rơi xuống mặt đất.
Thấy những mảnh dù có thể tận dụng, Nguyễn Bá Tòng cùng đồng đội thu gom lại.
Trong những đêm đường bị đánh phá dữ dội, công binh vừa phải nhanh chóng thông đường, vừa phải điều hướng các đoàn xe đi qua trọng điểm mà không được bật đèn.
Những mảnh dù pháo sáng khi ấy trở thành những “lộ tiêu di động”. Có khi chiến sĩ khoác những miếng dù lớn lên người, có khi dùng làm cờ hiệu để dẫn đường cho xe.
Chi tiết ấy cho thấy sự sáng tạo, linh hoạt của những người lính Trường Sơn trong điều kiện thiếu thốn, nơi mỗi vật dụng nhỏ đều có thể trở thành một phương tiện phục vụ chiến đấu.
Người Anh hùng của tuyến đường Trường Sơn
Những năm tháng chiến đấu trên Trường Sơn đã tôi luyện Nguyễn Bá Tòng từ một người lính trẻ trở thành một cán bộ công binh giàu kinh nghiệm.
Ông không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn mà còn luôn là người đi đầu trong những tình huống nguy hiểm. Khi đường bị bom đánh phá, ông có mặt để mở đường. Khi xe bị cháy, ông lao vào cứu xe. Khi đoàn xe bị mắc kẹt, ông tìm cách giải phóng mặt đường.
Đặc biệt, chiến công tại dốc U Bò đã trở thành một trong những dấu ấn quan trọng góp phần làm nên danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, được Nhà nước tuyên dương ngày 11-1-1973.
Sau chiến tranh, Nguyễn Bá Tòng tiếp tục công tác trong quân đội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau và sau này giữ chức Phó tư lệnh về Chính trị Binh đoàn 12.
Năm 2007, ông nghỉ hưu. Dù mang trên mình những thương tích của chiến tranh, trong đó có mảnh bom nằm lại ở xương bả vai, ông vẫn giữ tinh thần lạc quan và tiếp tục đóng góp cho đồng đội, cho Hội Truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh Việt Nam.
Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng qua đời năm 2019, nhưng hình ảnh người lính công binh bám đường, phá bom, mở đường giữa mưa bom bão đạn vẫn là một ký ức đẹp về thế hệ Bộ đội Trường Sơn.
Ông là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo và ý chí vượt qua gian khổ, góp phần giữ thông suốt tuyến đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.



