Thiếu tướng Nguyễn Chuông Phần 1 - Lần đầu ra trận
Thiếu tướng Nguyễn Chuông Phần 1 - Lần đầu ra trận
LẦN ĐẦU RA TRẬN
Đây là trận đánh diễn ra trên đỉnh núi Khau Co. Với tôi cũng như hầu hết anh em trong Đại đội 27 của chúng tôi, đây là trận đánh đầu tiên. Tôi và Phượng là hai chiến sĩ trẻ nhất Đại đội cho nên bỡ ngỡ và hồi hộp vô cùng. Nhưng đều thấy nó rất đỗi thiêng liêng. Bởi vì chúng tôi đã được nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bây giờ chính là thời điểm thực hiện lời thề quyết đem xương máu để giữ gìn nền Độc lập của Tổ quốc. Thấm thoắt đã 56 năm.
Lúc ấy giặc Pháp đông quân nhiều súng hiện đại hơn ta, có cả máy bay và pháo binh.
Đầu năm 1947 chúng tập trung quân ở Phòng Tô, Than Uyên tỉnh Lai Châu để chuẩn bị tấn công đánh chiếm lại toàn bộ Tây Bắc, trên ba hướng:
Cánh quân thứ nhất từ thị xã Lai Châu đánh xuống chiếm tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ, Quang Huy, tiến ra đồng bằng, đánh sang Yên Bái.
Cánh quân thứ hai xuất phát từ Phòng Tô đánh chiếm Sa Pa, Lào Cai, Bắc Hà, Phố Lu Nghĩa Đô.
Cánh thứ ba từ Than Uyên đánh chiếm dẫy núi Khau Co làm bàn đạp tấn công đánh chiếm Minh Lương, Văn Bàn, đánh ra Bảo Hà, đánh về Yên Bái.
Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đang ở Lào Cai được lệnh trên điều về chặn đánh giặc Pháp trên đãy núi Khau Co để hậu phương các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên kịp thời củng cố hậu phương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Tôi là chiến sĩ Trung đội 1 , Đại đội 27 . Đại đội trưởng tên là Ái Việt, Trung đội trưởng là Thiết Cương, các anh đều rất quý tôi. Hành quân từ Lào Cai xuống ga Bảo Hà, vượt sông Hồng vào Huyện Văn Bàn, chúng tôi đi dòng dã bốn ngày mới đến nơi tập kết ở xã Minh Lương, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Theo kế hoạch trên phổ biến, nhiệm vụ trung đội chúng tôi phải lên chiếm giữ, chặn đánh giặc
Pháp ở hai ngọn núi Khau Co cao nhất. Chúng tôi được chuẩn bị một tuần. Xã Minh Lương lúc này còn rất là bình yên thơ mộng, có con suối chảy quanh, hai bên bờ nhà sàn san sát cái nào cũng rộng, thoáng đãng. Cả tiểu đoàn đều ngủ nghỉ trong nhà, chẳng đơn vị nào phải ngủ rừng, nằm đất Xã Minh Lương lại chia thành hai bản. Bên này suối là Minh Lương Thượng. Bên kia suối gọi là Minh Lương Hạ. Làng bản đều nằm trong một thung lũng rộng mênh mông. Xung quanh, xa xa rừng núi điệp trùng, dăng kín thành một vòng bao bọc. Đồng bào dân tộc Mông trên núi cao, lưng núi là đồng bào dân tộc Mán, dưới thung lũng là đồng bào Thái. Tất cả tạo thành một quần thể nhiều dân tộc anh em chung sống lâu đời, gắn bó, hòa thuận. Tính tình cởi mở, chân chất, cần cù, dũng cảm. Đồng bào các dân tộc rất tin Cụ Hồ, thương yêu bộ đội, coi chúng tôi như con em trong nhà. Chúng tôi cũng rất tôn trọng kính yêu nhân dân. Từ đó Minh Lương trở thành căn cứ hậu phương của Tiểu đoàn, Trung đoàn và cả mặt trận. Thanh niên nam nữ trong các làng bản nô nức vào dân quân tự vệ đi dân công. Chúng tôi rất yên tâm lên đánh giặc Pháp trên đỉnh núi Khau Co.
Khau Co là dẫy núi cao hùng vĩ đầy sương mù gió lộng, là điểm hội tụ của nhiều núi nhỏ. Chúng tôi hành quân lặn lội leo trèo từ sáng ở xã Minh Lương đến gần tối mới lên tới đỉnh Khau Co. Trên đỉnh núi chỉ có một con đường độc đạo, người, ngựa di lại được. Nhân dân hai tỉnh Lào Cai, Yên Bái muốn qua thăm nhau đều phải leo qua con đường độc đạo này. Trên đỉnh Khau Co ngày nắng ấm, trời cao lồng lộng và thoáng rộng vô cùng, phong cảnh núi, rừng thật là tươi đẹp. Đất trời xanh vời vợi, chim hót, vượn kêu đến là vui tai, lạ mắt. Cây rất nhiều loại, hoa nhiều màu. Thế nhưng, ngày giá rét thời tiết ở đây khắc nghiệt làm sao. Đêm cũng như ngày gió tranh nhau thổi, chốc chốc lại một cơn lốc khiến cỏ dạt cây nghiêng tưởng như có thể cuốn cả con người lên trời, hoặc đẩy xuống vực. Những ngày oi ả không khí khô khốc, cây cối háo nước xào xạc, các loại muỗi, vắt, ruồi vàng đến quấy nhiễu. Chúng thi nhau cắn đốt làm ai nấy ăn ngủ không yên còn gây mụn nhọt khắp tay chân. Nhưng sợ nhất vẫn là gió Khau Co. Chả thế mà nhân dân ở đây đã có câu ví: "Ruồi vàng bọ chó. . . không bằng cái gió Khau Co" . Riêng những ngày gió nồm ở Khau Co, sương buông trắng trời, kín núi, không còn phân đất trời và giới hạn ngày đêm. Sương dầy đến nỗi chúng tôi có cảm giác mình đang đi bồng bềnh trong mây. Quần áo ẩm ướt suốt ngày. Có khi hàng tuần không nhìn thấy ánh nắng mặt trời. Nhưng thế trận chúng tôi từng ngày vững chắc. Chiến hào đào sâu, công sự, ụ súng được đắp đầy, các hầm đạn, hầm ngủ, hầm cấp cứu thương binh đưa cả vào lòng đất, tránh được đạn, pháo giặc. Ai cũng yên tâm khí thế sẵn sàng, giặc Pháp đến, tin là đánh giữ được trận địa Khau Co.
Đầu tháng 2 năm 1947 trên thông báo: "Giặc Pháp tiến công lên Khau Co, chúng đang hành quân, các đơn vị phải tăng cường quan sát, bộ phận đi đầu chúng đã đến chân Khau Co. Máy bay giặc đang bắn phá hậu phương ở xã Minh Lương, các đơn vị phải hết sức sẵn sàng chiến đấu”.
Đại đội 27 chúng tôi chưa phát hiện được địch. Tự nhiên tôi hồi hộp, trời không lạnh mà tay lắp đạn lên nòng cũng không bình thường, cứ lóng nga, lóng ngóng. Miệng nói như líu lại. Thực lòng tôi vẫn còn lo. Lần đầu tiên đánh nhau với giặc Pháp, tôi chưa hình dung được nó sẽ như thế nào. Máu đổ sống chết ra làm sao. Quan sát các anh trong trung đội thấy nhiều người bình tĩnh lắm còn bảo nhau "Chúng ta phải để giặc đến gần mới bắn". Thế rồi dần dần tôi thấy bình tĩnh trở lại và yên tâm chờ đợi.
Mãi đến 10 giờ giặc mới nổ súng tấn công. Mọi cỡ súng xối xả trút đạn vào tất cả các điểm tựa phòng ngự của ta hơn một tiếng đồng hồ, khiến trận địa ta, cây cối đổ ngổn ngang, đất đá, hầm hào sụt lở, bụi đất tung lên mù mịt. Sau đó bộ binh giặc nhất loạt xông lên miệng la hét "A, la xô” om xòm, vừa tiến vừa bắn như vãi đạn. Chúng tôi ở thế cao, nhìn rõ từng thằng tây, bao quát được cả đội hình các mũi tiến công của chúng.
Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc:
- Để giặc đến tầm thật gần hãy nổ súng.
Lúc này tôi bình tĩnh hơn đã nhìn thấy giặc đến giữa tiểu đội một, thằng nào cũng cao to, đầu đội mũ ca-lô, mặt đỏ gay, mắt lơ láo.
Vẫn chưa có lệnh bắn. Một toán khác đã đến sát chiến hào tiểu đội 3.
- Nổ súng! - Không rõ lệnh từ Trung đội trưởng hay Đại đội trưởng. Chúng tôi bắn. Cả đại đội, tiểu đoàn cùng bắn. Tiếng súng ta, địch nổ liên hồi, không tên địch nào lên được trận địa của ta. Có thằng chết chỉ cách chiến hào tiểu đội tôi năm sáu bước. Thằng bị thương kêu la thảm thiết khiến đội hình nhốn nháo, thằng lùi lại, toán chạy ngang. Có tên còn nằm tại chỗ la hét “A la xô" nhưng chẳng thằng nào dám tiến lên nữa. Thì ra giặc cũng sợ ta, chúng cũng sợ chết, cũng kêu la gào khóc như trẻ con. Lúc này tôi thấy phấn chấn, khí thế nhìn hai thằng tây chết nằm úp sấp to như con bò, hai thằng bị thương vừa kêu rống lên vừa rên rỉ.
Trận đánh cứ dằng co. Tiếng súng ta - địch thưa thớt dần. Sương chiều đã bắt đầu trùm xuống tràn mặt trận. Quân giặc phải lùi xuống chân núi Khau Co.
Đánh thắng trận đầu, ai cũng vui. Nhưng lập tức phải chuẩn bị khẩn trương cho các trận đánh tiếp sau mà chắc chắn còn gian khó ác liệt và dai dẳng hơn trên đỉnh núi Khau Co đầy sương mù với gió hướng này.
Quả nhiên hôm sau giặc Pháp lại tấn công. Liên tiếp mấy ngày liền, chúng hò hét tổ chức đánh lên nhưng đều bị chúng tôi chặn lại đứa chết đứa bị thương không còn đủ sức tấn công phải chuyển sang tạm thời phòng ngự đối diện trực tiếp với ta ở các ngọn núi dẫy đồi thấp Khau Co.
Cuộc chiến đấu tiếp tục chỉ diễn ra những trận đánh rời rạc, nhỏ lẻ, để thăm dò lực lượng của nhau. Bên ta, quân số chiến đấu và đạn dược giảm dần. Cuối cùng quần áo, chăn màn cũng rách tươm, ăn uống thất thường, không đủ no, thuốc men thiếu, rất ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm đánh giặc vẫn không nao núng. Đại đội 27 chúng tôi thỉnh thoảng còn sử dụng từng trung đội thay phiên nhau tấn công, tập kích vào trận địa quân giặc vừa có tính chất trinh sát vừa nhằm mục đích tiêu hao đẩy giặc ra xa, không cho chúng bám gần trận địa. Trong thời gian này giặc Pháp tăng thêm quân và vũ khí, đạn dược. Ta cũng vậy. Trên còn
giao cho tôi chức vụ tiểu đội phó. Thật ra tôi chỉ muốn là một chiến sĩ. Nhưng được anh em rất ủng hộ và trên tin yêu, tôi cũng vui nhận.
Trung đội được lệnh chuẩn bị chiến đấu, ai cũng phấn khởi vững vàng tin tưởng. Mấy anh ốm nặng phải về phía sau, không ai muốn rời trận địa.
Một buổi sáng khi đỉnh núi Khau Co còn đầy sương mù, địch đã bắn sang trận địa ta khác ngày thường. Tôi cùng một số anh em ra vị trí chiến đấu quan sát. Bỗng trung đội trưởng Thiết Cương gọi:
- Đồng chí Chuông? Địch nó bắn vậy nhưng chưa tấn công đâu. Đồng chí lại đoạn chiến hào gần tiểu đội 3.
Tôi đang định hỏi xem anh giao nhiệm vụ gì. Anh nói tiếp ngay:
- Hôm nay chi bộ làm lễ kết nạp Đảng cho đồng chí.
Tôi rất hồi hộp và phấn khởi. Năm qua tôi đã được nghe cán bộ cấp trên nói chuyện về Đảng Cộng sản, đặc biệt lại được học hẳn một tháng về chính trị, nội dung chương trình học cả Điều lệ Đảng, tôn chỉ, mục đích của Đảng nên rất mong một ngày trở thành đảng viên. Lễ kết nạp đơn giản mà trang nghiêm. Chỉ trong một đoạn chiến hào vẫn có bàn tự tạo làm bằng cây vầu và nứa đan, trên bàn có bó hoa chuối rừng đỏ. Vách chiến hào treo cờ đỏ sao vàng, cờ Đảng và ảnh các lãnh tụ Mác-ănghen, Lê-nin, Sít-ta-lin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.
Sáu anh em được kết nạp vào Đảng hôm nay có cả Phượng là bạn thân thiết, lại là con chiên của Chúa. Còn tôi là đệ tử của Đức Phật Thích ca đã trở thành đảng viên cộng sản. Tôi rất vui.
Anh Thiết Cương lên đọc công nhận và căn dặn chúng tôi. Tôi thay mặt sáu anh em lên phát biểu. Đại ý tôi hứa được Đảng giao bất cứ nhiệm vụ gì dù khó khăn mấy cũng quyết tâm phấn đấu hoàn thành. Rất mong các đồng chí chi bộ giúp đỡ… Chỉ có mấy câu thế mà tôi nói cứ ấp a, ấp úng, mặt nóng ran. Lễ kết nạp xong tôi trở về vị trí chiến đấu, chưa hết hồi hộp thì đã bị Phượng đến trêu chọc:
- Sao hôm nay mày phát biểu lúng búng như gà mắc tóc. Mọi ngày cãi nhau với tao lưu loát lắm kia mà.
- Xúc động, mày hiểu không?
- Hôm nay, cứ để tao phát biểu còn mạch lạc hơn mày nhiều.
- Có lẽ đúng như vậy. Nếu để cậu phát biểu hứa hẹn còn hay hơn.
Cuộc chiến đấu cứ dằng co không có tính chất quyết định. Mãi đến tháng tư năm 1947 địch mới mở đợt tiến công quy mô lớn hơn nhiều các lần trước. Cách đánh cũng khác trước. Ngày đầu chúng dùng máy bay bắn phá hậu phương ta đến tận Văn Bàn, Bảo Hà, Làng Cóc. Cối pháo bắn vào các trận địa ta. Mặt khác, bộ binh tiến lên không tấn công, chỉ áp sát bao vây. Ngày thứ hai các loại hỏa lực kết hợp với máy bay bắn phá, thả bom hàng tiếng đồng hồ. Sau đó, bộ binh tất cả các mũi, các hướng tiến lên đông đặc đánh vào các trận địa của ta. Vừa tiến vừa thổi kèn la hét "A la xô" ầm ĩ, om xòm.
Chúng tôi, dựa kinh nghiệm các trận đánh trước, cứ để giặc đến gần, chọn tên đi đầu, thằng chỉ huy, đứa thổi kèn, vác súng máy mà bắn. Quả nhiên mấy thằng đi đầu ngã xuống. Tên chỉ huy cũng chết, binh lính thằng chết, thằng bị thương. Giặc lại lùi xuống nằm tại chỗ không dám tiến lên.
Nhưng hướng tiểu đội 3 địch liều chết xông lên chiếm được đoạn hào. Trung đội trưởng Thiết Cương điều ngay một tổ của tiểu đội 1 với anh, bắn chết hai thằng. Thu được cả súng. Còn ba thằng tháo chạy ra khỏi chiến hào. Một thằng bị thương tiếp, hai thằng chạy thoát. Chúng tôi lại khôi phục được trận địa. Mệt quá nhưng ai cũng vui, phấn khởi, khí thế. Mặc dầu địch còn rất nhiều quân bâu bám xung quanh bắn cối pháo vào trận địa ta, hò hét nhưng chúng chỉ nằm tại chỗ không dám tiến lên.
Lực lượng ta lúc này nhiều đồng chí bị thương và hy sinh, trong đó có đồng chí Thịnh - Chính trị viên Trung đội, Tiểu đội trưởng Hoàng Cái, tổ trưởng ba người Nguyễn Xuân, Hoàng Phượng bạn thân thiết của tôi đang băng bó cho các đồng chí bị thương. Mười hai giờ trưa giặc lại mở đợt tấn công tiếp theo. Chúng bắn không tiếc đạn vào trận địa chúng tôi. Đạn nổ cứ liên hồi, inh tai nhức óc, lửa khói bụi đất bốc lên dồn xuống cả trận địa ta mù mịt. Khi hỏa lực chúng chuyển làn, bộ binh giặc lại đồng loạt xung phong. Lúc này tình hình diễn ra vô cùng quyết liệt.
Chúng tôi vừa bắn vừa ném lựu đạn. Anh em bị thương nhẹ cũng lên chiến hào bắn giặc. Địch lại bị thương, bị chết nhiều hơn hôm trước. Chúng chỉ nằm tại chỗ bắn lên.
Tôi nhìn Trung đội trưởng Thiết Cương, lòng nao nao xúc động. Anh gầy đi nhiều. Bộ râu con kiến khá đẹp, bây giờ mọc rậm đâm ra tua tủa. Cặp mắt anh vẫn sáng trong đầy suy tư Anh bảo tôi:
- Cậu làm cách nào tìm thêm đạn. Nhớ bảo anh em bắn tiết kiệm. Động viên anh em bị thương cố gắng tiếp tục chiến đấu.
Lúc này bọn địch bâu bám vừa hò hét ầm ĩ hòng áp đảo ta vừa nã các cỡ súng vào điểm tựa của ta. Đến 15 giờ chúng lại tấn công xung phong. Chúng tôi cứ nhằm bắn thằng đi đầu ngã gục. Bọn giặc lại lùi. Đến lúc này chúng tôi thực sự lo lắng. Đạn gần hết cả rồi mà giặc còn bâu bám xung quanh. Bỗng anh Thiết Cương ra lệnh:
- Bây giờ chúng ta vừa đánh vừa hát. - Anh cất tiếng hát trước "Bao chiến sĩ anh hùng”… Chúng tôi hát theo "Lạnh lùng vung gươm ra xa trường”. Lúc đầu hát còn nhỏ, rời rạc, càng về sau hát càng to, khí thế hào hùng "Quân xung phong? Nước Nam đang chờ mong tay người, hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời...".
Giặc Pháp ngơ ngác không tiến, không bắn mà nằm nghe ta hát. Chúng tưởng ta còn mạnh, cứ nằm lỳ dằng co, thỉnh thoảng bắn lên mấy loạt súng bâng quơ. Cho đến chiều tối tiếng súng cả ta và địch im hẳn. Trung đội tôi lúc này chỉ còn 18 đồng chí trong đó có mấy đồng chí bị thương nhưng vẫn giữ được trận địa trên hai ngọn núi Khau Co cao nhất.
Trận đánh đầu tiên mà tôi được tham gia đã diễn ra như thế. Khi ấy tôi mới là Tiểu đội phó, cái chức vụ mà sau này anh em ta thường nói vui là "nửa cán nửa quân”, thật sự tôi chưa biết chỉ huy ra sao. Nhưng mọi việc Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc nhở tôi đều làm tròn.
Cũng cần phải kể đến tình hình đời sống của bộ đội trong thời gian này. Thứ nhất là đồng lõa với giặc Pháp còn có lũ chấy rận hoành hành. Chúng tôi phải tìm mọi cách diệt chấy rận thì mới có thể yên ổn mà lo việc chiến đấu. Hàng vạn hàng vạn chấy rận bị tiêu diệt bằng mọi cách nên chúng tôi gọi đây là trận đánh không có tiếng súng. Thứ hai là mưa lũ. Cơn mưa kéo dài đến trung tuần tháng 7 khiến cho nước các con suối và sông Hồng dâng cao. Gió bão lại làm sụt lở đường sá, cây cối đổ ngổn ngang. Thuyền mảng cũng không qua lại được trên sông suối. Thế là việc chuyên chở gạo từ Yên Bái lên, Bảo Hà vào bị tắc nghẽn. Chúng tôi lâm vào cảnh đứt bữa, gạo để nấu cháo dần dần không còn, phải tìm các loại củ rừng, quả rừng ăn thay cơm.
Ôi thật là trận đói nhớ đời. Các thứ rau trên rừng, rau tập tàng, rau rớn, rau đồng tiền, rồi quả sung, quả vả, hoa chuối, ổi xanh. . . con ốc, con ếch, con cá, con tép đều được sử dụng thành thứ lương thực chính hàng ngày để khỏi bị đói lả. Có hôm tôi đi tìm rau phải chống gậy vì bụng đói mắt hoa, đi không vững, ruột xót như bào cứ sôi ùng ục có lúc tưởng ngất xỉu, vẫn phải cố dò dẫm bước đi chầm chậm theo anh em.
Thế rồi nghe nói hạt cây lai dầu ăn được anh em vào nhà dân xin lại phải nói dối là để giã với muối ăn thay muối vừng. Nào ngờ hạt lai dầu bùi và thơm đấy nhưng ăn vào một lúc sau, anh nào anh nấy sùi cả bọt mép, nôn oẹ, rên rỉ, nước mắt giàn giụa, chân tay run lập cập. Thế là lại phải nhờ dân tìm lá sắc cho uống để giải độc mới trở lại bình thường.
Lại đến khi bão tan, nước rút, gạo từ Văn Bàn được dân công tiếp tế lên, thổi một nồi ăn chưa thỏa, lại thổi tiếp nồi thứ hai, ăn đến căng bụng và cuối cùng mười hai cậu ôm bụng nằm thở, ngực tức buồn nôn mà lại không nôn được chân tay rã rời, bụng mỗi lúc một trướng lên sờ vào là cảm thấy đau nhói, nói không ra lời, mắt cứ trợn ngược, nước mắt giàn giụa như người hấp hối chờ chết… Cho đến mãi sau này tôi vẫn không hết ngượng về cái chuyện "suýt chết no" ngày ấy.
Cuối cùng thì lại phải nhờ đến dân tìm lá rừng sắc uống để cho nôn ra. Chúng tôi đã rút ra kết luận là cái đói đến từ từ và chết cũng từ từ nhưng đó là do hoàn cảnh tạo nên. Chứ bội thực có thể chết tươi mà chết trong sự ngượng ngùng hối hận.
Đó là những tình huống ngoài trận đánh trong thời gian ba tháng phòng ngự trên dãy Khau Co nhưng nó cũng là những thử thách rất có ý nghĩa đối với đời lính chúng tôi.
Điều quan trọng bậc nhất là chúng tôi đã hoàn thành vượt mức thời gian chặn giặc ở đây. Theo tôi hiểu thì cuối năm 1947, thế trận của chúng ta dã dần dần chuyển sang giai đoạn cầm cự. Từ sau trận Khau Co, Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đã trưởng thành hẳn lên chuyển sang làm nhiệm vụ chiến đấu trong vòng vây cho tới năm 1950 sau khi giải phóng Lào Cai lần thứ hai thì tập trung về thành lập đơn vị lớn hành quân đánh giặc ở mọi miền có giặc.
Sư đoàn 312 trở thành gia đình lớn của tôi qua mọi chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào, Hòa Bình, Điện Biên… Anh tiểu đội phó "nửa cán nửa quân” trong trận đánh đầu tiên ở mặt trận Khau Co đến chiến dịch Điện Biên được giao nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng.
Nhưng tôi chẳng thể nào quên trận đánh đầu tiên của cuộc đời người chiến sĩ Cách mạng, không thể quên tấm lòng của bà con các dân tộc ở Minh Lương đã cho tôi hiểu thế nào là tình cảm quân dân như cá với nước. Bởi đó là lần đầu tiên tôi thực sự hiểu ý nghĩa thiêng liêng cua hai tiếng Tổ quốc và tôi đã được cầm súng bắn vào đầu giặc Pháp để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình, bảo vệ quyền tự do chính đáng của người công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bảo vệ nhân dân.
Trận đầu tiên ấy mãi mãi tỏa sáng trong tôi.


