Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy: Từ trận Khe Sanh đến Chủ tịch Ủy ban quân quản đầu tiên của thị xã Quảng Trị
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy: Từ trận Khe Sanh đến Chủ tịch Ủy ban quân quản đầu tiên của thị xã Quảng Trị
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy sinh năm 1931, quê xã Ông Đình, huyện Khoái Châu (cũ), tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, nhập ngũ năm 1948, được kết nạp vào Đảng năm 1949 và được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1988. Ông nghỉ hưu năm 1996, sau hơn 48 năm công tác.
Một trong những dấu mốc đặc biệt nhất xảy ra vào năm 1968. Khi ấy, Nguyễn Đức Huy là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh.
Giữa chiến trường ác liệt, ông mang theo một cuốn sổ nhỏ, bìa ghi dòng chữ “Nhật ký chống Mỹ, tập 2”. Trang đầu được viết ngày 12/3/1968, trang cuối ngày 10/6/1968. Những trang giấy viết bằng mực xanh tím ghi lại các trận chiến của Tiểu đoàn 3 tại Tà Cơn - Khe Sanh và suy nghĩ của chính người chỉ huy giữa những ngày chiến đấu căng thẳng.
Đó không phải những ghi chép được viết nhiều năm sau chiến tranh bằng ký ức, mà là nhật ký ngay tại trận địa.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy (phải) gặp Chủ tịch Cuba Fidel Castro tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: D.V.
Tà Cơn khi ấy là một trong những vị trí phòng thủ quan trọng của quân Mỹ tại Khe Sanh. Để tiếp cận hệ thống phòng ngự của đối phương, bộ đội phải đào công sự, giao thông hào, từng bước áp sát và siết chặt vòng vây.
Trong nhật ký, bên cạnh diễn biến chiến đấu là những câu chuyện về thiếu lương thực, thương vong, nỗi nhớ gia đình và cả những bài thơ được người tiểu đoàn trưởng viết ngay giữa chiến trường.
Ngày 9/6/1968, đơn vị của Nguyễn Đức Huy đánh một đoàn xe cơ giới. Trận đánh kéo dài hơn 10 phút, đơn vị tiêu diệt hơn 70 quân đối phương, bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 5 ô tô và thu nhiều vũ khí. Điều đặc biệt là trước trận đánh, nhiều chiến sĩ phải ăn cháo báng cầm hơi vì thiếu lương thực.
Những trang nhật ký nhỏ vì thế trở thành một lát cắt đặc biệt về Khe Sanh: chiến tranh hiện ra không chỉ qua bản đồ tác chiến hay con số, mà qua sự đói khát, những cuộc hành quân, đồng đội hy sinh và tâm trạng của người chỉ huy đứng giữa ranh giới sống - chết.
Bốn năm sau Khe Sanh, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy lại có mặt trong một trong những chiến dịch ác liệt nhất của năm 1972. Khi Chiến dịch Quảng Trị diễn ra, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 9, Sư đoàn 304.
Theo các tư liệu lịch sử, vào 15 giờ ngày 1/5/1972, ông nhận lệnh của sư đoàn nhanh chóng chỉ huy đơn vị vượt sông Thạch Hãn, tiến vào đánh chiếm thị xã Quảng Trị.
Sở chỉ huy phía trước của Trung đoàn 9 khi đó có Trung đoàn phó Nguyễn Đức Huy và Phó chính ủy Lê Thanh Khê. Lực lượng gồm Tiểu đoàn 1 cùng một đại đội súng máy phòng không 14,5mm vượt Thạch Hãn tiến về thị xã.
Đến khoảng 20 giờ ngày 1/5/1972, đại đội trinh sát của trung đoàn đã đánh vào cụm quân phòng giữ khu vực phía nam cầu Quảng Trị. Cuộc tiến công tiếp tục được triển khai trong những giờ sau đó.
Sau khi thị xã Quảng Trị được giải phóng, Nguyễn Đức Huy được giao một nhiệm vụ rất khác so với công việc của một cán bộ chỉ huy chiến đấu: ông trở thành Chủ tịch Ủy ban quân quản lâm thời đầu tiên của thị xã Quảng Trị.
Từ người trực tiếp chỉ huy bộ đội tiến công, ông phải cùng các cán bộ nhanh chóng tiếp quản địa bàn vừa trải qua chiến sự, giải quyết những công việc của một chính quyền quân quản trong điều kiện chiến tranh chưa kết thúc.
Đó là một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời vị tướng quê Hưng Yên. Bởi giữa hai nhiệm vụ tưởng như rất khác nhau - chỉ huy chiến đấu và tổ chức quản lý một thị xã vừa được giải phóng - đều đặt lên vai ông trong cùng một chiến dịch.
Quảng Trị cũng trở thành miền ký ức theo Nguyễn Đức Huy suốt nhiều thập niên sau đó. Một trong những câu chuyện ông nhiều lần nhắc lại là trận chiến của Trung đội Mai Quốc Ca thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9. Những chiến sĩ trẻ được giao nhiệm vụ thọc sâu xuống khu vực cầu Quảng Trị, chặn tuyến giao thông chiến lược trong những ngày cuối tháng 4/1972. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã hy sinh trong trận chiến quyết liệt.
Với Nguyễn Đức Huy, đó không chỉ là một trận đánh được ghi trên bản đồ chiến dịch mà còn là ký ức về những người lính từng nằm trong đội hình đơn vị của mình.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ông tiếp tục có mặt trong đội hình tiến về phía Nam, đi qua những trận đánh quyết định kết thúc chiến tranh.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy (đeo kính, thứ hai từ phải sang) cùng các đồng đội đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tháng 8/1995. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy khi đó là Phó tư lệnh Sư đoàn 325, Quân đoàn 2, trực tiếp phối hợp chỉ huy Trung đoàn 46 tiến công trên hướng Đông Nam vào Sài Gòn - Gia Định. Sư đoàn được tăng cường xe tăng, công binh, cao xạ và pháo 130mm, đảm nhiệm các mục tiêu Long Thành, Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, căn cứ hải quân Cát Lái và tiến vào nội đô.
Chiều 26/4/1975, Sư đoàn 325 nổ súng. Trước sự chống cự quyết liệt của đối phương, đơn vị chuyển từ đánh nhanh sang đánh chắc. Nguyễn Đức Huy trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 46, phối hợp xe tăng và pháo binh, sau ba đợt xung phong đã chiếm Chi khu quân sự Nhơn Trạch. Ngày 29/4, lực lượng tiếp tục đánh chiếm thành Tuy Hạ, sau đó tiến đến bến phà Cát Lái, khóa đường rút bằng đường sông.
Sáng 30/4, Sư đoàn 325 vượt sông tiến công căn cứ Cát Lái. Hàng trăm tàu, thuyền do người dân địa phương hỗ trợ đã giúp bộ đội nhanh chóng vượt sông. Sau khi làm chủ Cát Lái, đơn vị phát triển tiến công quận 9, quận 4 và Tân Cảng.
Nguyễn Đức Huy trực tiếp chỉ huy lực lượng theo hướng quận 4. Sau 11 giờ 30 phút ngày 30/4, ông mới tiến về Dinh Độc Lập. Từ xa nhìn thấy cờ giải phóng tung bay trên nóc dinh, ông nhớ lại cảm xúc “vỡ òa khôn tả” giữa dòng người đổ ra đường mừng ngày toàn thắng.
Mười năm sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Đức Huy lại lên tuyến lửa Vị Xuyên
Khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc diễn biến căng thẳng, đặc biệt tại Vị Xuyên - Hà Tuyên cũ, ông lại được điều tới một trong những chiến trường khốc liệt nhất.
Sau tháng 2/1979, biên giới Việt Nam - Trung Quốc vẫn căng thẳng. Đến ngày 28/4/1984, Trung Quốc mở đợt tiến công lớn vào khu vực Vị Xuyên, huy động nhiều sư đoàn bộ binh, pháo binh và phương tiện cơ giới, đánh chiếm các điểm cao như 1509, 772, 266.
Khác với năm 1979, lần này đối phương tập trung vào khu vực Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên cũ, tạo nên một chiến trường đặc biệt ác liệt. Theo tướng Huy, có thời điểm chỉ trong 3 ngày, hơn 100.000 quả đạn pháo được bắn vào khu vực Vị Xuyên và hướng về thị xã Hà Giang. Núi đá bị pháo kích dữ dội đến mức bộ đội gọi nơi đây là “lò vôi thế kỷ”. Nhiều vị trí, hai bên chỉ cách nhau khoảng 30-40m.

Chiến sỹ tiểu đoàn pháo binh mặt trận Hà Tuyên sẵn sàng chiến đấu. Ảnh: Minh Lộc/TTXVN.
Năm 1985, khi chiến sự tại Vị Xuyên bước vào giai đoạn đặc biệt ác liệt, Đại tá Nguyễn Đức Huy -khi đó là Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô, được lệnh cùng 9 cán bộ tham mưu lên tăng cường cho mặt trận, trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu.
Thời điểm ấy, gia đình ông vừa có cơ hội đoàn tụ sau nhiều năm xa cách. Vợ ông mới từ quê lên Hà Nội, các con còn nhỏ, nhà cửa chưa ổn định. Việc lên biên giới đồng nghĩa mọi gánh nặng gia đình lại đặt lên vai người vợ. Tuy vậy, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên cương, ông lập tức nhận lệnh.
Không chỉ chấp hành điều động, Nguyễn Đức Huy còn đề nghị cấp trên chuyển ông hẳn về Quân khu 2 thay vì chỉ làm cán bộ tăng cường. Nguyện vọng được chấp thuận, ông được bổ nhiệm Phó tham mưu trưởng Quân khu 2, phụ trách tác chiến tại Mặt trận Vị Xuyên.
Chiến trường Vị Xuyên luôn ở thế giằng co, trận địa hai bên xen kẽ như “cài răng lược”, có ngày giao tranh xảy ra 2-3 lần. Làng Pinh gần như trở thành ranh giới giữa hậu phương và chiến trường: Từ làng Pinh trở về thị xã Hà Giang là cuộc sống bình thường, không có tiếng súng. Từ làng Pinh trở lên mới có chiến tranh giáp biên giới.
Theo các tư liệu về cuộc chiến Vị Xuyên, từ năm 1985 đến 1989, Nguyễn Đức Huy trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu tại mặt trận này, giữ cương vị Tham mưu trưởng mặt trận, đồng thời là Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2. Ông sau đó còn đảm nhiệm Quyền Tư lệnh Quân khu 2.
Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ông Nguyễn Đức Huy đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất; 2 Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 12/8/2025, Chủ tịch nước quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy.



