Bài viết

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH – BIỂU TƯỢNG VĨ ĐẠI CỦA TƯ DUY QUÂN SỰ VÀ NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM THẾ KỶ XX

Cần Thơ14/10/2026Hoàng Châu Anh (Đại học Kiến trúc Hà Nội)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy thiên lý của lịch sử dân tộc Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ không chỉ gắn liền với thiên chức làm mẹ, làm vợ hay nét dịu dàng nơi bến nước, con thuyền, mà còn luôn hiện diện ở những khúc ngoặt sinh tử của vận mệnh quốc gia. Từ buổi bình minh lịch sử, khi tiếng trống khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vang vọng khắp vùng Mê Linh, cho đến lời thề đanh thép "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông" của Bà Triệu, truyền thống kiên cường, bất khuất của phụ nữ Việt Nam đã trở thành một dòng chảy tư tưởng và hành động liên tục, trường tồn qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Truyền thống ấy không bị dập tắt bởi thiên niên kỷ Bắc thuộc, cũng không bị bóp nghẹt dưới ách thống trị khắc nghiệt của thực dân, đế quốc phương Tây, mà trái lại, nó ngày càng được tôi luyện để trở thành một thứ vũ khí đặc biệt của dân tộc.

Bước sang thế kỷ XX - thế kỷ của những cuộc đụng đầu lịch sử khốc liệt nhất giữa dân tộc Việt Nam với các đế quốc sỏ hàng đầu thế giới, truyền thống ấy đã đạt đến đỉnh cao mới với sự xuất hiện của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định. Bà không chỉ là một nhà lãnh đạo cách mạng tài năng, một cán bộ phụ nữ mẫu mực mà còn khẳng định vị thế độc nhất vô nhị: Nữ tướng duy nhất của thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử quân sự thế giới từng ghi nhận những nữ anh hùng xả thân vì Tổ quốc như Jeanne d'Arc của nước Pháp, nhưng một nữ tướng trực tiếp tham gia hoạch định chiến lược, chỉ huy quân sự, sáng tạo ra những phương thức tác chiến độc đáo và nắm giữ vị trí Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng trong một cuộc chiến tranh quy mô lớn thì chỉ có ở Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định tại Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 1966: "Phó tổng tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta".

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp oanh liệt của bà, lịch sử mở ra những trang viết đầy xúc động và khâm phục về tư duy quân sự sắc bén cùng vai trò lãnh đạo kiệt xuất trong ngọn lửa Đồng Khởi Bến Tre năm 1960. Đặc biệt, việc khai sinh ra Đội quân tóc dài huyền thoại - một hình thái chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo chưa từng có trong lịch sử quân sự thế giới được khắc họa rõ nét qua những tư liệu lịch sử chính thống và hồi ức đầy trân trọng của các nhân chứng, đồng đội.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15 tháng 3 năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre - vùng đất cù lao trù phú nằm ở hạ lưu sông Cửu Long. Bến Tre từ xưa đã nổi tiếng với địa hình sông rạch chằng chịt, rừng rậm chầm bập, nơi các thế hệ lưu dân người Việt khi xưa nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá để mở mang bờ cõi. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cùng hoàn cảnh lịch sử gian khổ đã hun đúc nên ở con người Bến Tre tính cách nghĩa hiệp, bộc trực, phóng khoáng và đặc biệt là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quật cường trước mọi ách bất công, áp bức. Tinh thần ấy được dung dưỡng qua những bài ca dao, những câu thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, khắc sâu vào tâm khảm người dân nơi đây về đạo lý làm người và khí tiết thủy chung với quê hương đất nước.

Bà sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo có 10 người con. Là con út trong nhà, ngay từ nhỏ, cô gái Út Định đã phải chứng kiến sự lam lũ, vất vả của cha mẹ và những người nông dân quê nhà dưới ách bóc gọt của thực dân Pháp và tầng lớp địa chủ phong kiến. Dù không có điều kiện đến trường lớp chính quy do gia cảnh khó khăn, cô Út Định đã được người anh ruột là Nguyễn Văn Chẩn (anh Ba Chẩn) - một thanh niên sớm giác ngộ cách mạng  trực tiếp dạy chữ và truyền cho những tư tưởng tiến bộ đầu tiên. Tình yêu thương gia đình, sự thấu hiểu nỗi đau đớn của người dân mất nước cùng tư tưởng yêu nước từ gia đình đã trở thành nền tảng tâm lý và tư tưởng vững chắc, nhào nặn nên một bản lĩnh kiên cường, không chịu lùi bước trước gian nguy của Nguyễn Thị Định.

Năm 1936, khi mới 16 tuổi trong bối cảnh Phong trào Đông Dương Đại hội đang dâng cao khắp Nam Kỳ, Út Định đã chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng. Bà hăng hái tham gia rải truyền đơn, làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ và tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân. Sự thông minh, mưu trí và lòng nhiệt thành cách mạng của cô thôn nữ Bến Tre đã nhanh chóng được tổ chức ghi nhận, và đến tháng 10 năm 1938, khi mới 18 tuổi, bà vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà nảy nở mối duyên tình cách mạng đẹp đẽ nhưng cũng đầy nước mắt với đồng chí Nguyễn Văn Bích (Ba Bích) - Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bến Tre. Cuộc hôn nhân giữa hai người đồng chí cùng chung lý tưởng đã đem lại những ngày tháng hạnh phúc ngắn ngủi trước khi giông bão cách mạng ập đến.

Ngày 4 tháng 10 năm 1939, chỉ vỏn vẹn 3 ngày sau khi bà sinh đứa con trai đầu lòng tên là Nguyễn Văn Minh (tên thân mật là On), mật thám Pháp đã ập đến bắt đồng chí Ba Bích. Đến khi đứa con thơ mới tròn 7 tháng tuổi, bầy mật thám lại tiếp tục vây bắt bà Nguyễn Thị Định và đưa hai mẹ con về giam tại Khám Lá Bến Tre. Trước nguy cơ bị đày đi xa, bà buộc phải dứt ruột gửi đứa con thơ dại về cho cha mẹ già chăm sóc để tiếp tục con đường chiến đấu. Tồi tệ hơn, khi đang bị đày tại nhà tù Bà Rá, bà nhận được tin đắng lòng: chồng bà do bị tra tấn dã man và chế độ ngục tù khắc nghiệt đã hy sinh tại ngục tàn Côn Đảo. Nỗi đau mất chồng, thương con da diết tưởng chừng như có thể quật ngã người phụ nữ trẻ tuổi, nhưng nhớ lại lời dặn dò đanh thép của chồng trước lúc chia ly rằng dấn thân vào con đường cách mạng là phải chịu gian khổ hy sinh, bà đã nén đau thương vào lòng, biến nước mắt thành ý chí chiến đấu sắt đá.

Giai đoạn từ năm 1940 đến năm 1943, thực dân Pháp đưa bà Nguyễn Thị Định lên giam giữ tại nhà tù Bà Rá thuộc tỉnh Phước Long, một trong những chốn địa ngục khét tiếng do thực dân Pháp dựng lên ở vùng rừng thiêng nước độc nhằm giam cầm, tiêu diệt ý chí của các chiến sĩ cách mạng miền Nam. Chế độ ngục tù tàn bạo, khí hậu khắc nghiệt, bệnh sốt rét rừng cùng sự tra tấn, hành hạ dã man của cai ngục đã lấy đi sức khỏe của biết bao tù nhân. Tuy nhiên, chính trong chốn tù tày khắc nghiệt ấy, tinh thần bất khuất và năng lực tổ chức của bà Nguyễn Thị Định lại tỏa sáng rực rỡ. Bà cùng các đồng chí nữ tù chính trị thành lập các tổ chức đấu tranh nội bộ, giữ vững khí tiết người cộng sản, biến nhà tù thành trường học cách mạng. Bà trực tiếp tham gia và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh chống lại sự vô nhân đạo của cai ngục, đòi cải thiện chế độ ăn uống, đòi thuốc chữa bệnh cho tù nhân, thậm chí tổ chức các cuộc đấu tuyệt thực kéo dài. Nỗi dằn xé nội tâm về đứa con thơ và nỗi đau mất mát người thân không làm bà gục ngã, mà ngược lại, chính những đòn thù của kẻ cướp nước đã tôi luyện nên một người nữ chiến sĩ cách mạng có bản lĩnh sắt thép, trí tuệ sắc sảo và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng cho đến khi được đưa về quản thúc tại địa phương vào năm 1943 do bệnh tim phát tác nặng.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nhân dân Việt Nam tạm thời bị chia cắt hai miền. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào hất chân thực dân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Chính quyền Sài Gòn đã thi hành chính sách tàn bạo tố cộng, diệt cộng, lập các khu dinh điền, khu trù mật, dìm phong trào đấu tranh của nhân dân trong biển máu. Đỉnh cao của sự tàn bạo là việc ban hành Đạo luật 10/59 vào tháng 5 năm 1959, lê máy chém đi khắp các tỉnh thành miền Nam, đặt các lực lượng cách mạng ra ngoài vòng pháp luật, đe dọa sự tồn vong của phong trào cách mạng. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, đầu năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 đã họp và ban hành Nghị quyết 15 lịch sử, khẳng định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, bằng con đường kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang cách mạng. Nghị quyết 15 như một luồng gió mới, đáp ứng đúng nguyện vọng cháy bỏng của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam đang bị kìm kẹp, giải tỏa cơn khát đấu tranh giải phóng.

Cuối năm 1959, với cương vị là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, bà Nguyễn Thị Định là một trong những cán bộ chủ chốt được cử đi tiếp thu Nghị quyết 15 từ Khu ủy. Đường trở về Bến Tre vô cùng gian nan, bà phải cải trang thành người buôn bán nhỏ, người tu hành để vượt qua vô số trạm kiểm soát gắt gao của địch. Ngày 30 tháng 12 năm 1959, khi trở về đến Mỏ Cày, bà chứng kiến cảnh tượng đau thương khi địch vừa càn quét dữ dội, nhiều cơ sở cách mạng bị đập phá, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh bị giết hại hoặc phải sơ tán. Trước tình thế khẩn cấp, Bí thư Tỉnh ủy đi công tác vắng, nếu thụ động chờ đợi tập hợp đủ Ban Chấp hành Tỉnh ủy thì sẽ bỏ lỡ thời cơ chiến lược. Với bản lĩnh của một nhà lãnh đạo nhạy bén, bà Nguyễn Thị Định đã chủ động đứng ra triệu tập Hội nghị cán bộ chủ chốt còn lại của tỉnh họp tại Cù lao Minh, trực tiếp truyền đạt tinh thần Nghị quyết 15 và đề xướng quyết định lịch sử: Phát động một tuần lễ toàn dân nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng nông thôn. Chính bà là người đầu tiên xướng xuất và sử dụng khái niệm "Đồng Khởi" để mô tả tính chất liên hoàn, đồng loạt và mãnh liệt của cuộc khởi nghĩa này, mở màn bằng tiếng súng thắng lợi ngày 17 tháng 1 năm 1960 tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày.

Một trong những điểm sáng nhất trong tư duy quân sự của bà Nguyễn Thị Định trong phong trào Đồng Khởi chính là nghệ thuật tác chiến "lấy yếu thắng mạnh", "lấy ít địch nhiều", dựa vào sự sáng tạo vô tận của nhân dân khi trong tay ta hầu như chưa có lực lượng vũ trang chính quy và súng đạn. Nhận thức rõ kẻ thù có ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và quân số nhưng lại yếu kém về tinh thần, bà Định đã chỉ đạo nhân dân sử dụng các vật liệu bình dị tại chỗ để chế tạo vũ khí nghi binh. Nhân dân Bến Tre đã dùng các thân cây chuối sơn đen giả làm nòng súng đại bác, dùng thùng thiếc đập mạnh, gõ mõ tre liên hồi đêm ngày kết hợp với đốt pháo đốm để tạo ra âm thanh dồn dập như tiếng súng liên thanh, súng cối bao vây đồn bốt địch.

Những hành động nghi binh quy mô lớn này, kết hợp với việc phao tin quân chủ lực cách mạng đã về giải phóng, đã tạo ra một bầu không khí hoảng loạn bao trùm lên các đồn bốt ngụy quân. Binh lính địch không thể phân biệt được thật giả, luôn sống trong sợ hãi, co cụm thủ thế hoặc bỏ đồn tháo chạy. Bằng tư duy nghi binh tài tình và đòn tâm lý chiến bậc thầy, lực lượng cách mạng Bến Tre dưới sự chỉ đạo của bà Định đã hạ gục nhiều đồn bốt, thu hồi hàng trăm khẩu súng của địch để trang bị cho lực lượng vũ trang cách mạng mới hình thành mà không phải chịu tổn thất lớn. Đây chính là sự vận dụng xuất sắc tư tưởng "Bất chiến tự nhiên thành" (Thắng mà không cần đánh) của binh pháp kinh điển vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Từ thắng lợi vang dội của đợt Đồng Khởi đầu tiên ở Mỏ Cày, chính quyền Sài Gòn hoảng loạn đã điều động lực lượng sừng sỏ kéo về Bến Tre nhằm trả thù và khôi phục ách kìm kẹp. Tháng 1 năm 1960, địch mở chiến dịch càn quét quy mô lớn mang tên "Bình trị Kiến Hòa", huy động hơn 1 vạn quân thủy quân lục chiến, bảo an, dân vệ đánh vào 3 xã điểm Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh. Chúng đi đến đâu là đốt nhà, giết người, cướp phá đến đó nhằm đè bẹp phong trào vừa nhen nhóm. Trước tình thế nguy cấp, bà Nguyễn Thị Định cùng Tỉnh ủy Bến Tre đã có một sáng kiến chiến lược có một không hai khi tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị trực diện quy mô lớn dưới hình thức tản cư ngược. Bà đã tập hợp hàng ngàn phụ nữ, tay bồng con nhỏ, tay mang mùng mền, nồi niêu, khiêng theo thương bệnh binh và thi thể những người bị địch giết hại, rầm rộ kéo lên thị trấn Mỏ Cày đòi Quận trưởng ngụy phải dừng càn quét, bồi thường thiệt hại và rút quân. Lực lượng đấu tranh chính trị này lên tới 5.000 người, tràn vào dinh quận, nhà thông tin, gây tắc nghẽn toàn bộ bộ máy chính quyền địch tại địa phương suốt 12 ngày đêm, buộc Tướng ngụy Nguyễn Văn Y phải ra lệnh rút quân và cay đắng thừa nhận sự thất bại trước cái tên "Đội quân tóc dài".

Đội quân tóc dài không chỉ là lực lượng đấu tranh đơn thuần mà đã trở thành hiện thân rực rỡ nhất của phương châm tác chiến "Ba mũi giáp công" bao gồm: Chính trị, Vũ trang và Binh vận. Ở mũi chính trị, những người mẹ, người chị với tà áo bà ba giản dị, chiếc khăn rằn quấn cổ đã trở thành những bức tường thép ngáng đường xe cơ giới, bịt nòng đại bác, dùng lý lẽ sắc bén và luật pháp để đấu lý trực diện với sĩ quan, binh lính địch. Đặc biệt, ở mũi binh vận mang tinh thần "Mưu phạt tâm công", bà Nguyễn Thị Định thấu hiểu rằng đa số binh lính ngụy đều là con em nông dân bị bắt lính đôn quân, nên đã chỉ đạo đội quân tóc dài tiếp cận đồn bốt, dùng tình cảm gia đình, tình đồng bào để thức tỉnh lương binh lính, phân hóa hàng ngũ kẻ thù. Những lời kêu gọi chân thành rời bỏ súng đạn trở về với gia đình đã khiến hàng ngàn binh lính ngụy bỏ ngũ, làm tan rã từng mảng chính quyền cơ sở địch từ bên trong. Khi thời cơ đến, lực lượng này lại phối hợp với mũi vũ trang, làm nhân tố nội tuyến chỉ đường, cất giấu vũ khí, thậm chí trực tiếp tham gia diệt ác trừ gian, hạ đồn bốt địch.

Một đóng góp lý luận và thực tiễn xuất sắc khác của bà Nguyễn Thị Định là việc xây dựng mô hình hậu phương tại chỗ ngay trong lòng vùng địch kiểm soát. Bà nhận định rằng trong một cuộc chiến tranh không có tuyến đầu và hậu phương rõ rệt, thì mỗi ngôi nhà, mỗi thôn ấp phải trở thành một pháo đài vững chắc. Dưới sự chỉ đạo của bà, phụ nữ miền Nam không chỉ cầm súng hay tham gia đấu tranh chính trị, mà còn là lực lượng nòng cốt xây dựng hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ, làm giao liên truyền tin tức tình báo, tiếp tế lương thực và tải thương. Bà đã biến toàn dân thành lực lượng cách mạng, biến lòng dân thành hậu phương lớn nhất, giúp các căn cứ cách mạng tồn tại vững vàng ngay sát sườn các căn cứ quân sự và đồn bốt hiện đại của Mỹ - ngụy.

Năm 1965, bà Nguyễn Thị Định được cử giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam, đồng thời được Bộ Chính trị và Bác Hồ giao trọng trách Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, trước khi chính thức được phong quân hàm Thiếu tướng vào tháng 4 năm 1974. Dù đứng ở vị trí chỉ huy tối cao của quân đội, trong hồi ức của đồng chí, chiến sĩ và bạn bè quốc tế, hình ảnh Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn hiện lên vừa oai nghiêm, tài thao lược, lại vừa bình dị, dịu dàng. Bà không mấy khi mặc quân phục sang trọng mà giữ thói quen mặc bộ quần áo bà ba đen, cổ quấn chiếc khăn rằn Nam Bộ quen thuộc, đội nón lá và đi dép râu. Trong chiếc túi khoác đơn sơ của người nữ Phó Tư lệnh luôn có một hộp kim cuộn chỉ, để rồi sau những giờ họp căng thẳng chỉ đạo các chiến dịch lớn, bà lại ngồi bên ngọn đèn dầu nơi căn cứ gian khổ, tự tay vá lại từng chiếc áo rách cho các chiến sĩ bảo vệ, thương binh. Hình ảnh người nữ tướng cầm kim vá áo đã trở thành biểu tượng cảm động về tình mẫu tử, tình đồng chí sâu nặng trong chiến trường miền Nam khói lửa.

Ẩn sau bản lĩnh chỉ huy kiên cường là một trái tim nhân ái, nhạy cảm và vô cùng thương yêu chiến sĩ. Những đồng đội cũ tại Bộ Chỉ huy Miền kể lại rằng, bà Định có thể điềm tĩnh, sắc bén khi vạch đồ án tác chiến đánh trả các đợt càn quét quy mô lớn như Gian-xơn Xi-ty (Junction City) của Mỹ, nhưng bà lại lặng lẽ khóc khi nghe tin một đơn vị gặp tổn thất, hay khi chứng kiến những chiến sĩ trẻ tuổi hy sinh. Bà tự tay chăm sóc từng bát cháo, lau từng giọt mồ hôi cho các thương binh chuyển về từ tuyến đầu. Chính sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ quân sự sắc bén với tâm hồn nhân hậu bao la đã giúp bà Nguyễn Thị Định nhận được sự kính trọng tuyệt đối từ các tướng lĩnh và đồng chí nam giới. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn dành cho bà sự tin tưởng đặc biệt, Thượng tướng Trần Văn Trà đánh giá cao nghệ thuật điều hành Đội quân tóc dài của bà, và Giáo sư Trần Văn Giàu khi nghĩ về bà đã thốt lên câu nói bất hủ rằng những người như chị sống làm tướng, chết thành thần.

Cuộc đời của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định là một thiên anh hùng ca trọn vẹn vì nước, vì dân. Từ một cô thôn nữ nghèo vùng cù lao Bến Tre, trải qua biết bao giông tố của cuộc đời, mất chồng, xa con, nếm trải tù tày thực dân, đối mặt với họng súng kẻ thù. Bà đã vươn lên trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Sự nghiệp của bà là sự đúc kết rực rỡ nhất cho phẩm chất cao quý của phụ nữ Việt Nam: Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang.

Tư duy quân sự của Nguyễn Thị Định, đặc biệt là nghệ thuật phát động phong trào Đồng Khởi, phương châm tác chiến ba mũi giáp công và việc sáng lập đội quân tóc dài đã làm phong phú sâu sắc cho kho tàng lý luận chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đó là minh chứng sống động cho thấy sức mạnh của một dân tộc không chỉ đo bằng số lượng vũ khí hay tiềm lực kinh tế, mà trước hết đo bằng sức mạnh tinh thần, trí tuệ chiến lược và khả năng tổ chức quần chúng. Đội quân tóc dài đã đi vào lịch sử quân sự thế giới như một sáng tạo độc đáo, chứng minh sức mạnh vô song của sức mạnh mềm khi được định hướng bằng lý tưởng yêu nước đúng đắn.

Đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là học sinh, sinh viên, cuộc đời và di sản của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định là một bài học vô giá về ý chí vượt khó, tinh thần tự học, lòng yêu nước tha thiết và sự sáng tạo bản lĩnh trong mọi hoàn cảnh. Từ một người không có điều kiện đến trường lớp chính quy, bà đã tự học và rèn luyện để trở thành một nhà chiến lược tài ba, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên những đau thương cá nhân. Hình ảnh người nữ tướng quấn chiếc khăn rằn bình dị mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, một ngọn đuốc sáng soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn