Thiếu tướng Nguyễn Văn Bé
Trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng ở xã Phương Thạnh, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), quân dân huyện Càng Long đã đoàn kết, anh dũng chiến đấu, lập nên những chiến công vang dội như trận Cả Chương (1946), trận La Bang (1948)… Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975), huyện Càng Long trở thành một trong những trọng điểm đàn áp, khủng bố của Mỹ - ngụy với nhiều thủ đoạn mang tên “Sóng tình thương”, “Đồng tâm diệt Cộng”… nhằm vào những người kháng chiến và quần chúng yêu nước. Trong bối cảnh đó, Tiểu đoàn địa phương quân 501 ra đời và nhanh chóng trưởng thành, cùng đơn vị địa phương các xã, dân quân du kích xã ngày đêm bám dân, bám đất làm nòng cốt cho phong trào du kích phát triển mạnh mẽ, đẩy địch vào thế bị động đối phó, góp phần cùng quân và dân cả nước làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đêm 29-4-1975, các lực lượng vũ trang cách mạng trong địa bàn huyện Càng Long đã thần tốc đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, làm tê liệt ý chí chiến đấu của kẻ thù, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận. Với ba mũi giáp công nhuần nhuyễn và sáng tạo, huyện Càng Long đã tự lực giải phóng hoàn toàn vào lúc 10 giờ sáng ngày 1-5-1975. Sinh ra và lớn lên ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng, ngay khi 14, 15 tuổi, đồng chí Nguyễn Văn Bé đã tham gia công tác quân báo ở địa phương. Tháng 1-1962, đồng chí xung phong nhập ngũ khi chưa tròn 16 tuổi và được biên chế vào Đại đội 20, Tiểu đoàn Tây Đô (Cần Thơ); sau đó được điều về Tiểu đoàn T70, Quân khu 9. Từ năm 1964 đến năm 1965, đồng chí là Tiểu đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, Bộ Chỉ huy Miền. Năm 1965, đồng chí được cử đi học tại Trường Quân chính Miền (gọi tắt là H13). Kết thúc khóa học, từ năm 1965 đến năm 1968, đồng chí đảm nhiệm các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Đại đội trưởng thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9; ngày 13-4-1966, đồng chí được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Từ năm 1968 đến năm 1971, đồng chí tiếp tục được cử đi học tại Trường Văn hóa Nguyễn Văn Trỗi và Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Sau khi hoàn tất các khóa học, từ tháng 11-1971 đến tháng 5-1975, đồng chí được phân công làm Giáo viên Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ tháng 5-1975 đến tháng 7-1981, đồng chí là Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 4-1979, đồng chí được cử đi học tại Học viện Quân sự Cao cấp. Từ tháng 7-1981 đến tháng 5-1990, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Tham mưu phó Sư đoàn 302, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 302, Chuyên gia Sư đoàn trưởng Sư đoàn 286 Quân đội Campuchia, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận 479. Từ tháng 5-1990 đến tháng 6-1995, đồng chí là Phó Tham mưu trưởng Quân khu 7. Ngày 28-10-1994, đồng chí được thăng quân hàm Thiếu tướng. Từ tháng 6-1995 đến tháng 11-2000, đồng chí được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 7. Từ tháng 12-2000 đến tháng 3-2007, đồng chí được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu 7.
Ngày 1-3-2007, Thiếu tướng Nguyễn Văn Bé nghỉ hưu theo chế độ. Sau khi nghỉ hưu, đồng chí tiếp tục tham gia công tác đoàn thể tại địa phương, được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Thường vụ Đảng Đoàn, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố nhiệm kỳ 2007-2012. Đồng chí là đại biểu Quốc hội khóa XII, nhiệm kỳ 2007-2011, thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh.
Hơn 47 năm tham gia hoạt động cách mạng và công tác trong Quân đội, được trui rèn trong lửa đạn chiến tranh, đồng chí có nhãn quan chính trị của người Cộng sản, cảnh giác trước luận điệu của kẻ thù, có chính kiến rõ ràng, thẳng thắn, chân tình. Khi đang đảm nhận chức vụ cao trong Quân đội, cũng như khi trở về đời thường, đồng chí luôn giữ vững phẩm chất cao đẹp của người cán bộ đảng viên Cộng sản, sống có nghĩa, có tình, được đồng chí, đồng đội, nhân dân, bạn bè tin yêu, mến phục.
Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng các đơn vị địa phương, Miền, trực tiếp tham gia một số trận đánh ở Chi khu Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch Giá, Chi khu Lộc Ninh, Bù Đốp. Tham gia chống càn ở Chiến khu Đ, đồng chí trực tiếp bắn rơi tại chỗ 2 máy bay, có 1 chiếc trực thăng, 1 chiếc F105, được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt máy bay”.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí tham gia đánh vào Thủ Đức, cầu Băng Ky, ngã tư Hàng Xanh và liên tục đánh địch phản kích ở địa bàn Thủ Đức, Gò Môn cho đến kết thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Tổng cộng trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đồng chí đã tham gia hơn 20 trận đánh lớn, nhỏ, có trận hoàn thành tốt nhiệm vụ, có trận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
https://baoquankhu7.vn/chan-dung-tuong-linh-quan-khu-7-1945-2020-thieu-tuong-nguyen-van-be--1832131217-0049104s35910gs



