Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam - Say sưa với công tác tham mưu
Năm 1980 mẹ mất, lúc đó ông đang học năm thứ ba đại học. Gia đình đã khó khăn lại càng khó khăn chồng chất. Ông tiết kiệm từng đồng phụ cấp gửi về giúp người cha lo cho các em ăn học. Người em út của ông lúc đó mới bốn tuổi. Đó là những dấu ấn đầu đời, ông tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Nhưng điều đó lại hun đúc trong ông, thôi thúc, rèn giũa ông thành người có bản lĩnh, giàu nghị lực và ý chí, quyết phấn đấu vươn lên trong cuộc sống và trong cuộc đời binh nghiệp.
Tốt nghiệp, ông được phong quân hàm Trung úy. Theo sự phân công của tổ chức, ông lên nhận công tác tại Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Giang và được điều động về Đồn Biên phòng Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, giữ cương vị Đội trưởng vũ trang, sau đó làm Phó Đồn trưởng quân sự. Những ngày đó, ai đã từng lên Hoàng Su Phì một lần, sẽ cảm nhận được vất vả, khó khăn của mỗi chuyến đi.
Với độ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển, cứ mưa xuống là trơn trượt. Đi bộ không sao, còn ngồi ô tô sẽ lo ngay ngáy. Vì mặt đường do nước mưa xói lở lộ ra đầy hàm ếch, hang hốc. Thời điểm ấy (tháng 8/1982), tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc tỉnh Hà Giang còn đang căng thẳng. Lên Đồn Biên phòng Thàng Tín thật gian truân. Phần vì phải đi bộ trên một đoạn đường dài vài trăm km, bắt đầu từ địa phận huyện Bắc Quang, sau đó vượt qua cổng trời Thàng Tín cao ngất. Phần vì pháo Trung Quốc thi thoảng lại bắn qua biên giới sang đất ta. Phần nữa, dưới mặt đất mìn còn nhiều, muốn vượt qua phải dọn, phải gỡ bỏ.
Ông nhớ, trên các tuyến đường khi đi phải rất chú ý tìm những nơi được đánh dấu để đặt chân. Sơ sảy một tý là mất mạng. Để bảo đảm cho bộ đội an toàn, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh chủ trương cho tháo gỡ mìn để tạo thành những con đường đưa bộ đội lên chốt, lên điểm tựa. Với kiến thức đã được học ở trường về bom, mìn, thuốc nổ, ông huấn luyện và chỉ huy cán bộ, chiến sĩ ở Đồn Biên phòng Thàng Tín tháo gỡ mìn, tạo thành một hành lang để đi vận chuyển lương thực, thực phẩm về đơn vị và hành quân lên chốt chiến đấu. Hồi ấy, ông bảo, ông là người cao số, bom, mìn còn phải tránh cả ông. Đó là cái hôm ông chỉ huy bộ đội của đồn lên chốt Rừng Xanh. Cứ nghĩ là đã dọn sạch mìn, không ngờ ông đạp thẳng lên còn một quả mìn do ta cài chưa được tháo gỡ! May mắn thay, quả mìn này đã không nổ, ông và các chiến sĩ bình yên.
Một năm ở Đồn Biên phòng Thàng Tín, ông thấy mình như đã được đi qua chiến tranh, dày dạn thêm lên về kiến thức quân sự và trình độ tổ chức, chỉ huy bộ đội. Buổi ban đầu của ông là thế. Từ một sĩ quan mới tốt nghiệp ra trường đi biên giới Hà Giang, sau một năm đã trở thành người cán bộ chỉ huy quân sự được trải nghiệm thực tế ở tuyến biên giới Việt - Trung. Tháng 7/1983, ông trở về Trường Đại học Biên phòng, tiếp tục học đào tạo giáo viên Biên phòng khóa 3, rồi về làm giáo viên ở Trường Hạ sĩ quan Biên phòng 2 đóng tại Đà Nẵng, giảng dạy môn Nghiệp vụ Biên phòng. Sau đó, năm 1986, lại về Phòng Huấn luyện Nhà trường, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng làm trợ lý huấn luyện.
Những ngày tháng công tác ở Phòng Huấn luyện Nhà trường đã giúp ông bước đầu tiếp nhận trí thức tham mưu huấn luyện một cách khoa học, có hệ thống, bài bản và quy củ. Đây là bước khởi đầu rất quan trọng. Là một cán bộ đã trải qua thực tế ở đồn Biên phòng, ông trăn trở việc áp dụng phương pháp huấn luyện bộ đội ở các đồn Biên phòng phải sát thực, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Biên phòng, công tác sẵn sàng chiến đấu, trong điều kiện quân số phân tán nhỏ lẻ. Từ những suy nghĩ đó, ông đã đề xuất với cấp trên phải coi công tác điều hành huấn luyện các đồn Biên phòng như là một "nghệ thuật" của người chỉ huy, trong bối cảnh vừa công tác vừa huấn luyện, vừa huấn luyện vừa công tác.
Phòng Huấn luyện lập kế hoạch nghiên cứu phương pháp huấn luyện do ông đề xuất, đồng thời báo cáo Bộ Tham mưu cho triển khai làm thử. Sau khi rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện phương án, Bộ Tham mưu báo cáo Bộ Tư lệnh và phương pháp huấn luyện đó đã được phổ biến rộng rãi ra toàn lực lượng. Thực tế mấy chục năm qua, phương pháp huấn luyện này rất phù hợp với thực tiễn công tác và chiến đấu, đang phát huy tác dụng và đạt hiệu quả thiết thực với các đồn, trạm biên phòng trên các tuyến biên giới. Năm 1987, ông được cấp trên điều vào làm trợ lý huấn luyện ở Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Đây là tỉnh có cả tuyến biên giới đất liền và biển, đảo. Trên tuyến biên giới đất liền, thời tiết cực kỳ khắc nghiệt, địa hình núi cao, rừng rậm, không có đường ô tô đến các xã biên giới và đồn Biên phòng. Đi bộ thì cứ ngược núi mà leo. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quanh năm bị sốt rét hủy hoại sức khỏe, công tác huấn luyện bộ đội vì thế gặp nhiều khó khăn.
Đứng trước tình hình đó, một mặt ông tham mưu cho Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh ra nghị quyết về nâng cao chất lượng công tác tham mưu, huấn luyện, đặc biệt là tập trung chú trọng đến phương pháp huấn luyện cán bộ, chiến sĩ các đồn Biên phòng, các hải đội; mặt khác, ông đề xuất với cấp trên cho tự chế dụng cụ huấn luyện như lựu đạn, xây dựng đường tuần tra mẫu ngay trước cổng các đồn Biên phòng, làm bãi tập bắn tà âm, tà dương sát với địa hình các đơn vị. Những năm tháng ấy, Bộ đội Biên phòng Quảng Nam - Đà Nẵng đang phải căng lực lượng ra để đấu tranh phòng, chống vượt biên, vượt biển trái phép ra nước ngoài, nhưng các đồn Biên phòng, các hải đội vẫn duy trì nền nếp huấn luyện.
Có được điều đó là do, trong quá trình huấn luyện, nhằm khắc phục điều kiện quân số phân tán, chỉ huy các đồn đã tận dụng những lần cán bộ, chiến sĩ ở địa bàn về tập trung sơ kết, tổng kết các vụ việc điển hình, các đợt thi đua thường xuyên và đột xuất, sáu tháng và hàng năm, kết hợp tổ chức huấn luyện luôn cho bộ đội. Có như vậy mới tập trung được cán bộ, chiến sĩ, không còn phải lo ngại quân số phân tán, do đó chất lượng huấn luyện đã được đảm bảo theo yêu cầu kế hoạch đề ra.
Mặt khác, mỗi lần giao ban, ông đề nghị chỉ huy các đơn vị bố trí, sắp xếp thời gian, dành ra từ 1-2 giờ để tổ chức huấn luyện cho bộ đội. Các đồn Biên phòng ở tuyến núi huấn luyện các bài bắn cơ bản như bắn tà dương, tà âm. Các đồn Biên phòng tuyến biển huấn luyện bắn mục tiêu trên biển, bia phải đặt trên phao nơi có sóng dập dềnh... Tất cả các đơn vị đều phải chống huấn luyện hình thức, huấn luyện "chay". Được hướng dẫn, huấn luyện chu đáo, cụ thể, kỹ càng, chất lượng công tác và chiến đấu của các đơn vị ở Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thời kỳ ấy từng bước được nâng lên. Huấn luyện gắn với công tác, công tác gắn với huấn luyện ở các đồn, hải đội đi vào nề nếp, Bộ đội Biên phòng Quảng Nam - Đà Nẵng được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đánh giá cao và nhân rộng điển hình ra toàn lực lượng...
Thời kỳ công tác ở Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, có một kỷ niệm sâu sắc mà ông không bao giờ quên. Ông kể, do làm công tác huấn luyện, nên ông có nhiều dịp đi dọc tuyến biển, đảo của tỉnh. Nhờ vậy mà ông đã nhận ra, dọc tuyến biển Quảng Nam - Đà Nẵng có rất nhiều nhà thờ, họ đạo, xứ đạo. Phần lớn các cha cố, linh mục vẫn còn có âm mưu hoạt động chống phá chế độ và chính quyền cách mạng. Giáo dân, một mặt chưa hiểu hết đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; một mặt do bị tuyên truyền xuyên tạc, xúi giục, tình trạng vượt biển trốn đi nước ngoài ngày càng gia tăng.
Làm thế nào để xử lý, giải quyết được thực trạng này? Làm thế nào cảm hóa, thu phục được họ, để họ xích lại gần hơn với chính quyền cách mạng và Bộ đội Biên phòng? Qua nắm tình hình, tiếp xúc với giáo dân ông đã nhận ra một điều: Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Biên phòng làm công tác vận động quần chúng mặc dù rất tích cực, lăn lộn với phong trào, nhưng chưa có biện pháp và đối sách phù hợp thực tế; chưa tiếp cận được với các đối tượng là các chức sắc tôn giáo. Đó chính là những hạn chế của công tác vận động quần chúng.
Từ phát hiện trên, ông báo cáo và đề xuất với Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh: Muốn nắm được giáo dân, nắm được các vị linh mục, chính quyền các cấp và Bộ đội Biên phòng phải mở rộng giao lưu với linh mục và các vị chức sắc khác của đạo Thiên chúa, phải thân thiện với họ. Các đồn Biên phòng, hải đội trong tỉnh phải làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các địa phương, tăng cường tiếp xúc, mở rộng giao lưu với nhà thờ và các vị chức sắc của giáo hội. Thực hiện chủ trương này, không khí cởi mở giữa chính quyền, Bộ đội Biên phòng và các vị linh mục, giữa quần chúng bên lương và bên giáo bắt đầu khởi sắc.
Nhiều chương trình giao lưu về văn hóa, xã hội, giúp nhau làm kinh tế được mở ra. Ngày lễ, tết, lễ Nô-en, hai bên qua lại thăm viếng, chúc mừng nhau. Nhà thờ mất điện, các đồn Biên phòng cho mượn máy phát điện. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị giúp đồng bào công giáo nuôi trồng hải sản, giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao với thanh niên theo đạo Thiên chúa; cho nhà thờ mượn sách báo mở thư viện, tủ sách để bà con giáo dân tìm hiểu kỹ thuật đánh bắt, nuôi trồng hải sản. Nếu chủ tàu là người công giáo phải chú ý quan tâm, giúp đỡ, cảm hóa họ, không để họ mặc cảm với Biên phòng và chính quyền địa phương. Nhờ đó, mà các vị linh mục, các ông trùm, chánh xứ họ đạo hiểu hơn về cách mạng, về chế độ mới, chăm lo "sống tốt đời đẹp đạo", không chống đối, tuyên truyền xuyên tạc như trước đây. Quần chúng giáo dân cũng dần dần trở thành tai mắt của chính quyền và các đồn Biên phòng. Các vụ gây rối, gây bạo loạn, vượt biển trốn đi nước ngoài giảm đi trông thấy.
Năm 1992, khi ông được bổ nhiệm làm Đồn trưởng Đồn Biên phòng 248, Quảng Nam, Đà Nẵng, môt địa bàn có nhiều hoạt động của đạo Thiên chúa và các vụ vượt biển trái phép trốn đi nước ngoài nổi lên, phương pháp đổi mới công tác vận động quần chúng trong đồng bào công giáo vẫn được ông chỉ huy, huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, đồng thời vận dụng luôn vào thực tế của địa bàn. Phương pháp này đã được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đánh giá rất cao. Những năm ấy, địa bàn của Đồn Biên phòng 248, Đà Nẵng do ông làm Đồn trưởng không xảy ra vụ vượt biển nào trốn đi nước ngoài. Đồng bào bên lương và đồng bào công giáo đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn, cùng chăm lo làm ăn, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, tích cực tham gia với Bộ đội Biên phòng bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc.
Ông vinh dự được Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh cử đi báo cáo điển hình trước Hội nghị Phụ nữ thành phố để rút kinh nghiệm. Cũng trong năm 1993, ông đã tham mưu cho Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh xây dựng đảo Hòn Chỏ (nằm giáp ranh giữa tỉnh Thừa Thiên Huế với thành phố Đà Nẵng và cách Đà Nẵng hơn 10km) thành đài quan sát phục vụ cho công tác bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo, đồng thời là nơi neo đậu, trú tránh bão cho các phương tiện đánh cá và làm ăn trên biển của ngư dân miền Trung. Từ mô hình đảo Hòn Chỏ, những năm về sau, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đã xây dựng được nhiều điểm trú tránh bão cho ngư dân và các đài quan sát, tạo điều kiện thuận lợi cho các tập đoàn, tổ, đội tàu thuyền vừa khai thác hải sản, vừa bảo vệ tốt chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc.
Cuối năm 1993, ông được cử đi học đào tạo chỉ huy tham mưu tại Học viện Lục quân Đà Lạt. Tốt nghiệp vào loại tốp đầu của khóa 29, đạt loại giỏi môn Địa hình Quân sự và các môn Khoa học xã hội. Tháng 8/1995, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tham mưu trưởng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Lúc này, tình hình buôn lậu trên biển miền Trung đang trở thành vấn đề nhức nhối của cả nước. Nhiều tàu vận tải lớn lợi dụng việc vận chuyển hàng hóa ra nước ngoài, khi về nước đã chở theo đồ điện gia dụng, xe đạp, vải vóc... nhập lậu vào Việt Nam. Khu vực biển miền Trung những năm ấy, từ Thanh Hóa trở vào đến Quy Nhơn, tỉnh Bình Định cứ sôi lên sùng sục vì hàng lậu. Cả nước tập trung chống buôn lậu trên biển nhưng vẫn không hạ được nhiệt của nó. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng chỉ đạo: Tập trung đánh mạnh, đánh trúng, đánh hiểm vào lũ "cá mập" là những tên trùm buôn lậu lớn.
Nhận chức Phó Tham mưu trưởng vừa đúng một tháng, ông được Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh giao nhiệm vụ chỉ huy Đội Đặc nhiệm của Biên phòng tỉnh đi chống buôn lậu trên biển. Theo kế hoạch trinh sát, Đội Đặc nhiệm do ông chỉ huy phải vào Quy Nhơn, tỉnh Bình Định "ém quân" giữ bí mật, đợi tàu từ nước ngoài về. Nằm ở nhà trọ bình dân ba ngày ba đêm, ông và các chiến sĩ của mình vẫn không thấy có dấu hiệu gì được "ra trận". Bằng linh cảm, ông dự đoán có điều chẳng lành. Điều dự đoán của ông quả nhiên không sai. Đồng chí Nguyễn Hữu Thắng, Phó trưởng phòng Trinh sát chỉ huy "trận đánh" cho ông biết, có dấu hiệu bị lộ. Bọn trên bờ phát hiện kế hoạch đón lõng của Bộ đội Biên phòng, nên đã thông báo không cho tàu Phương Mai 18 vào "thả hàng".
Tương kế tựu kế, ông báo cáo và đề xuất với Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh: "Nếu đã bị lộ nghiệp vụ thì lấy luôn cái đã bị lộ để lừa lại bọn buôn lậu". Được Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh đồng ý với phương án trên, ông cho rút Đội Đặc nhiệm ra khỏi thành phố Quy Nhơn, ra xa ba cây số, cho thay biển số xe ô tô, đợi bọn buôn lậu ngoài khơi mò vào. Quả nhiên, thấy Đặc nhiệm Biên phòng rút quân, chúng điện cho tàu vào bờ "thả hàng". Đội Đặc nhiệm lập tức quay trở về Quy Nhơn, lên tàu phóng thẳng ra đảo Cù Lao Xanh, bắt giữ ngay con tàu chở hàng lậu trị giá đến 4 tỷ đồng tiền Việt Nam lúc bấy giờ. Trận đánh đầy mưu trí diễn ra nhanh gọn, làm cho bọn cầm đầu buôn lậu cả trên bờ và trên biển không kịp trở tay, chúng không hiểu nổi là Bộ đội Biên phòng ở đâu ra mà nhanh thế. Tên thuyền trưởng đưa cho ông 3.000 USD để ông tha cho hắn và đồng bọn, nhưng ông đã ra lệnh cho anh em lập biên bản, thu giữ tang vật và còng tay tất cả bọn chúng lại, dẫn giải về đơn vị.
Năm 1997, sau khi chia tách thành hai tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, ông trở lại tỉnh Quảng Nam giữ chức Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh. Ở Quảng Nam, những ngày tháng lăn lộn ở vùng biên giới phía Tây của tỉnh, ông nhận ra rằng, đồng bào các dân tộc ở các xã, bản, thôn, làng vẫn còn rất nghèo khổ. Trình độ dân trí thấp, giao thông đi lại khó khăn. Bản sắc văn hóa đang dần bị mai một. Đạo Tin lành đang tìm mọi cách len lỏi vào vùng đồng bào dân tộc. Đặc biệt, ở những vùng căn cứ kháng chiến, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vô cùng thiếu thốn, ánh sáng văn hóa mới chưa đến được với đồng bào. Nhà Gươl - nơi sinh hoạt cộng đồng của bà con, đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Ông nghĩ, xây dựng đời sống vật chất, văn hóa cộng đồng cho đồng bào vùng biên giới khấm khá lên, cũng là một nội dung xây dựng nền biên phòng toàn dân, xây dựng vững chắc thêm thế trận bảo vệ biên giới của Tổ quốc.
Nghĩ là làm, ông báo cáo và được Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng Quảng Nam thống nhất đề xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho chủ trương. Các địa phương cùng các ngành chức năng đã tổ chức phục hồi lại nhà Gươl, phục hồi lại hương ước, quy ước sinh hoạt nhà Gươl theo tinh thần văn hóa mới, phù hợp với từng cụm dân cư dọc biên giới. Đồng thời lắp đặt các máy phát thủy điện nhỏ, đưa điện về nhà Gươl và đến từng hộ gia đinh. Xây dựng các cụm ăng ten thu phát vô tuyến truyền hình (Annalos), đưa truyền hình đến nhà Gươl và về các thôn, làng, nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho bà con. Trong hai năm 1998, 1999, toàn bộ các xã biên giới phía Tây của tỉnh Quảng Nam đã được phủ sóng truyền hình rộng khắp.
Năm 2000, Thiếu tướng Đặng Vũ Liêm, Phó Tư lệnh về Chính trị Bộ đội Biên phòng đi kiểm tra Biên phòng Quảng Nam, lên Đồn Biên phòng 657, đã vào nhà Gươi cùng ăn, cùng uống rượu Tà vạc với đồng bào Cơ Tu. Thiếu tướng Đặng Vũ Liêm đánh giá: Việc khôi phục lại truyền thống văn hóa nhà Gươl, làm thủy điện nhỏ, phủ sóng truyền hình Annalos đến toàn bộ các xã biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam là cách làm sáng tạo, thiết thực và có ý nghĩa sâu sắc. Đây là một trong những biện pháp hay của công tác vận động quần chúng, góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa nhanh hơn, có hiệu quả hơn! Nói sao cho hết được niềm vui của ông và cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ. Thành tích ấy có một phần đóng góp nhỏ bé của ông.
Năm 2000, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Chỉ huy trưởng phụ trách Tham mưu, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam. Trên cương vị mới, trách nhiệm nặng nề hơn, nhưng ông cũng thấy gắn bó chặt chẽ hơn với mảnh đất này của miền Trung nổi tiếng trung dũng, kiên cường, bất khuất. Là người dám nghĩ dám làm, nhất là những công việc khó, việc mới, ông cùng với Thường vụ Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam bàn bạc, tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh mở rộng giao lưu qua biên giới Việt Nam - Lào, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội hai bên biên giới phát triển, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ biên giới quốc gia. Tỉnh Sê Kông của Lào trước đây là căn cứ cách mạng của Bạn. Nhân dân các bộ tộc Lào có tinh thần yêu nước, chịu thương chịu khó, nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Từ Sê Kông có thể đi tới các tỉnh Kà Lừm, Pắc Sế (thủ phủ phía Nam Lào), sang các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan rất thuận lợi và xuống Quảng Nam, Đà Nẵng của Việt Nam để mở rộng giao thương đến các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Vùng Nam Lào và Thái Lan có nhiều tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế. Được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đồng ý, Bộ đội Biên phòng Quảng Nam đã tham mưu cho lãnh đạo tỉnh mở cửa khẩu Tà Oọc, nối Quảng Nam với tỉnh Sê Kông của Lào. Đây là bước đột phá táo bạo, nhằm mở ra khả năng phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và Quốc phòng - An ninh cho Quảng Nam và khu vực Trung Trung bộ Việt Nam


