Thiếu tướng NGUYỄN VĂN PHƯỚC
Thiếu tướng Nguyễn Văn Phước
Năm đó, cha anh 25 tuổi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 375, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Khối Chiến sĩ thi đua toàn quân tham gia Lễ duyệt binh ngày 1-1-1955 chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.
Sự kiện diễn ra tại Quảng trường Ba Đình, đến nay đã tròn 70 năm.
Từ câu chuyện của anh Nguyễn Kháng Chiến chia sẻ, Khi Hà Nội đang rạo rực cờ hoa chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, tôi đến thăm ba anh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phước, năm nay ông đã 96 tuổi, nguyên Chủ nhiệm khoa Xe tăng-Thiết giáp, Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng), tại ngôi nhà ở khu đô thị phía Nam thành phố. May mắn là ông vẫn mạnh khỏe và dường như chưa quên điều gì... Ông chậm rãi kể: “Tôi nguyên là chiến sĩ Đại đội 71, Tiểu đoàn 375 của Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, được tham gia nhiều trận đánh oanh liệt trong các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, đơn vị tôi rút về đóng quân ở khu vực Miếu Môn (Hà Nội). Thời gian này, tôi được bổ nhiệm là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 375 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304), rồi được lựa chọn làm nhiệm vụ huấn luyện bộ đội chuẩn bị duyệt binh ở sân bay Tông. Anh Chiến - người con trai hiếu nghĩa, luôn muốn tìm về cội nguồn, truyền thống của gia đình: “Tròn 10 năm sau ngày lễ trọng đại trên, cha mẹ sinh tôi ra đời, vào ngày 1-1-1965, tôi là con thứ ba trong gia đình, là kết quả của cuộc đoàn tụ của gia đình trên đất Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) sau hai chục năm xa nhau; năm 1965 cũng là năm chiến tranh ác liệt trên cả hai miền đất nước. Tên “Kháng Chiến” là niềm tin của bố mẹ tôi về ngày chiến thắng trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Cũng như bao gia đình bộ đội, cha tôi đi công tác biền biệt, mẹ thì nén lại nỗi nhớ thương xa cách, kiên trì lao động, học tập và nuôi con... Trong trí nhớ của bố tôi, người vợ Nguyễn Thị Phương với đôi quang gánh và hai đầu quang là hai đứa con thơ, lặn lội mấy chục cây số dưới bom đạn giặc, đã trở thành hình ảnh không bao giờ có thể quên!”. Tôi nắm bàn tay ông, đôi bàn tay đồi mồi, lủng củng những đốt, những ngón... Những câu chuyện không còn nằm yên trong trí óc ông, mà qua lời kể đã sống động, ngân vang và lan tỏa. Đó là ký ức quý giá của ông, đại diện cho lớp người thời đó, đã hy sinh hạnh phúc riêng cho nhiệm vụ chung lớn lao của đất nước.
Ngày 2-9 tới đây, Việt Nam sẽ kể câu chuyện 80 năm của dân tộc ở Ba Đình, Hà Nội. Câu chuyện được kể bằng hình ảnh, âm thanh, bằng cả triệu nụ cười trên phố và triệu trái tim khắp trăm miền hướng về Thủ đô của hòa bình, về dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Tôi hình dung, trong câu chuyện ấy, may mắn sao vẫn có ông - nhân chứng của lịch sử - trên Quảng trường Ba Đình đầy nắng gió.


