Cựu chiến binh

Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng - Suốt đời tâm huyết với biên cương

Phạm Hữu Bồng vào những ngày cuối tháng 12-2012, sau Đại hội Cựu Chiến binh Việt Nam lần thứ V. Lúc này, ông đang làm công tác bàn giao chức Phó chủ tịch thường trực Hội cho người kế nhiệm của Ban Chấp hành mới. Lần đầu tiên được làm việc với ông, vị tướng ở tuổi 75, mà sức vẫn "cường", trí vẫn "mẫn", một con người thực sự tâm huyết, nhiệt thành, thẳng thắn.

Đà Nẵng12/06/2026Đoàn Trường Cao đẳng Thương mại (Đoàn Trường Cao đẳng Thương mại)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ít lời xã giao ngắn gọn, ông vào việc ngay. Từ cặp da màu đen, ông rút ra tập tài liệu dày khoảng 30 trang giấy A4 đưa cho tôi. Tôi lướt vội, trang bìa trên cùng in dòng chữ "Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng", giữa trang là tiêu đề tài liệu: "Một số bài phát biểu của Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về công tác bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trong tình hình mới". Cuối trang bìa ghi thời gian ấn phẩm "Năm 2000". Rồi ông nói thêm:

- Đây là tài liệu do Phòng khoa học - Công nghệ tập hợp các bài tôi viết đăng trên các Tạp chí Trung ương, các bài nói của tôi ở một số hội nghị. Anh nghiên cứu làm tài liệu tham khảo. Anh yêu cầu gì cứ trao đổi với tôi, tôi sẵn sàng đáp ứng.

Đối với tôi, viết về chân dung vị Tướng thì tài liệu kia chỉ phản ánh một phần rất nhỏ trong thân thế, sự nghiệp của ông. Chính vì vậy, buổi làm việc với ông hôm nay, tôi muốn tìm hiểu cặn kẽ quá trình hoạt động, những cống hiến của ông đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng. Ấn tượng của tôi với ông là phong cách làm việc cởi mở, dễ gần, rất chỉn chu, cẩn trọng. Xen lẫn những câu chuyện hệ trọng trong đời, trong nghiệp là kinh điển, phương ngôn kim cổ Đông, Tây mà ông đã trải nghiệm, thật hóm hỉnh. Ông làm cho không khí buổi làm việc nghiêm túc, nhưng thư thái, nhẹ nhàng. Tôi thực sự bị lão tướng chinh phục.

Thiếu tướng Phạm Hữu Bồng sinh ngày 10/7/1937 tại xã Trường Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Vùng quê của ông xưa kia quanh năm nghèo khó. Dân gian từng có câu "Được mùa Nông Cống, sống mọi nơi". Đó là câu than phiền về sự khó khăn, khắc nghiệt trong sản xuất nông nghiệp của quê ông. Như bao gia đình, nhà ông cùng chung số phận, quanh năm "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" vẫn chẳng đủ ăn. Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa là vùng tự do, là hậu phương vững chắc, cung cấp nhiều nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến. Nghe theo tiếng gọi của Cụ Hồ, thanh niên trong vùng nô nức tham gia kháng chiến. Có người gia nhập Vệ quốc đoàn, có người vào thanh niên xung phong, có người tham gia dân công hỏa tuyến. Cụ thân sinh ra ông, cũng từng tham gia đoàn quân ấy, nhưng ông cụ bị thương, phải trở về, công tác ở địa phương. Tiếp bước cha, cùng thanh niên trong làng, Phạm Hữu Bồng gia nhập đội thanh niên xung phong lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Một lần theo bộ đội vào chiến dịch, ông đã bị thương. Chàng trai 17 tuổi can trường phải rời vị trí, về tuyến sau. Một nỗi buồn đè nặng trong lòng, người thanh niên xứ Thanh chỉ mong vết thương chóng lành để được về đơn vị tiếp tục phục vụ chiến đấu.

Sau thời gian điều trị, vết thương ổn định, ông may mắn được chuyển từ thanh niên xung phong về Đại đội 2, Cục Cảnh vệ Trung ương. Về đơn vị mới, ông càng có điều kiện nuôi dưỡng niềm ao ước bấy lâu là tiếp tục được cống hiến. Có một điều khiến ông rất trăn trở, đó là vết thương của mình. Không báo cáo chỉ huy đơn vị, xem như không trung thực, nếu báo cáo, phải kiểm tra lại sức khỏe, có khi bị loại vĩnh viễn khỏi quân ngũ. Chỉ nghĩ nếu bị ra quân, ông đã thấy rùng mình, thế là ông giấu nhẹm vết thương, tập trung để cùng đồng đội công tác bình thường, đồng thời ông tranh thủ thời gian rèn luyện sức khỏe. Cứ buổi chiều sau giờ công tác, ông có mặt ở bãi thể thao tập kéo xà đơn, nâng tạ, chạy bộ... Chính sự kiên trì và quyết tâm rèn luyện, cùng với các khoa mục đạt khá giỏi, ông đã lọt vào "tầm ngắm" của cấp trên.

Từ một người lính cảnh vệ thuộc Đại đội 2, thực hiện Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa IIl) về thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới và các mục tiêu quan trọng ở nội địa, ông có vinh dự là một trong những người lính thuộc các đơn vị đầu tiên của lực lượng Công an Nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), và được cấp trên tuyển chọn đi đào tạo tại Trường sĩ quan Lục quân khóa 12.

Ba năm học tập, rèn luyện tại Trường sĩ quan Lục quân là bước ngoặt trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Từ người lính, nay ông được học tập, rèn luyện cả kiến thức, bản lĩnh, tư duy của người chỉ huy tương lai. Năm 1963, tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan Lục quân, ông được điều động về Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang (nay là Học viện Biên phòng), làm giáo viên chuyên ngành quân sự. Làm giáo viên quân sự, ông thực sự thấm thía quá trình học tập, rèn luyện của mình tại Trường Sĩ quan Lục quân, với những năm tháng "luộc quân" ở mảnh đất Sơn Tây khắc nghiệt. Những bài tập kỹ, chiến thuật dưới cái nắng oi nồng của mùa hè vùng đồi đá ong như nồi áp suất khổng lồ khiến bộ đội sém da rát thịt. Rồi những ngày đông giá buốt, tập tình huống rạp sát mặt đất chống bom pháo, cái rét thấm đẫm mặt cỏ lan tỏa lên thân người lính nhức buốt đến tận xương. Vất vả, gian khổ nhưng cũng rất lạc quan, yêu đời, đã tôi luyện nên bản lĩnh và phẩm chất của người sĩ quan cách mạng.

Trên cương vị là giáo viên quân sự, ông tìm hiểu và biết, Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang mới thành lập, lại trong thời chiến, nên mọi thứ từ giảng đường, thao trường, bãi tập, giáo án, mô hình học cụ... đều thiếu thốn. Trường rất cần một thao trường có cấu trúc phù hợp với chiến trường, rất cần giáo viên có kiến thức bài bản, có kinh nghiệm huấn luyện chính quy. Nghiên cứu giáo án huấn luyện quân sự, ông tìm tòi văn bản hướng dẫn của trên và tài liệu tham khảo của các trường sĩ quan của quân đội, để tìm ra nội dung, hình thức, biện pháp trình bày bài giảng, phù hợp với học viên sĩ quan Công an nhân dân vũ trang. Với lòng say mê nghề nghiệp, ông đã nhanh chóng trở thành giáo viên mẫu mực, có năng khiếu sư phạm, được học viên tín nhiệm, đồng nghiệp đánh giá cao. Nhằm đáp ứng nhu cầu huấn luyện của nhà trường, năm 1973, ông được cử về Trường Đại học Công an dự lớp đào tạo giáo viên Trinh sát - pháp luật. Kết thúc khóa học, ông trở về trường cũ với cương vị giáo viên Trinh sát - pháp luật. Vốn là một giáo viên quân sự có năng lực, nay được đào tạo thêm chuyên ngành an ninh, ông càng vững tin khi đảm nhiệm giáo viên khoa mục mới. Ông hiểu, đào tạo nên người sĩ quan Công an nhân dân vũ trang phải có chuyên môn toàn diện quân sự và nghiệp vụ.

Từ một giáo viên, ông được bổ nhiệm làm Tổ trưởng bộ môn, Phó khoa, quyền Trưởng khoa, Trưởng phòng đào tạo rồi Phó Hiệu trưởng. Ở bất kỳ cương vị nào ông cũng để lại dấu ấn của sự cải cách, đổi mới, để lại những bài học có giá trị về cả lý luận và thực tiễn cho công tác đào tạo sĩ quan của nhà trường. Những ngày làm công tác quản lý huấn luyện, ông biết, cùng một bài giảng, nhưng chất lượng giáo viên giảng dạy khác nhau. Nhìn nhận đúng thực trạng, thể hiện đặc trưng của việc đào tạo chính trị, quân sự, nghiệp vụ như Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, ông yêu cầu các khoa, tổ bộ môn tăng cường công tác trao đổi chuyên môn: thông qua bài giảng, dự giờ, thí giảng, bình giáo, tập giảng nhiều lần cho giáo viên nhuần nhuyễn, thuần thục giáo án. Ông luôn đòi hỏi giáo viên phải tự nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, có nhiều ví dụ thực tiễn để minh họa cho tính khái quát của lý luận, tìm tòi cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Giáo viên phải biết gợi mở cho học viên có tư duy học tập và nghiên cứu sáng tạo, chứ không đơn thuần là thầy đọc, trò chép. Ông thường xuyên xuống các khoa dự giờ, tăng cường kiểm tra huấn luyện để bổ sung, góp ý cả về kiến thức và năng lực thực hành trên thao trường cho giáo viên. Căn cứ tình hình thực tế của các khoa, nắm chắc trình độ chuyên môn của từng giáo viên, ông chỉ đạo các khoa phân công giáo viên giỏi kèm cặp giúp đỡ giáo viên trung bình, từ đó nâng dần năng lực giảng dạy của giáo viên. Với cách làm nghiêm túc và chặt chẽ, vừa khoa học, vừa sát thực tiễn công tác và chiến đấu của lực lượng, ông đã góp phần quan trọng, thiết thực trong công tác đào tạo tại chỗ, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cả về lý luận, về nghiệp vụ và kỹ, chiến thuật.

Mười hai năm làm thầy, làm cán bộ quản lý, ông tự hào đã cùng với Ban Giám hiệu, đội ngũ cán bộ, giáo viên đào tạo nhiều thế hệ học viên có phẩm chất năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trên các tuyến biên giới, vùng biển của Tổ quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lúc bình thường cũng như trong chiến đấu, trước những khó khăn phức tạp. Tuy nhiên ông không khỏi trăn trở mỗi lần dự họp Bộ Tư lệnh, nghe Chỉ huy các địa phương, đơn vị phản ánh về chất lượng đội ngũ cán bộ, sản phẩm do nhà trường đào tạo. Ông buốt lòng khi có những sĩ quan vi phạm kỷ luật, năng lực kém. Ông ghi chép tỷ mỷ những phản ánh từ đơn vị cơ sở. Ông không tự ái mà xem đây là những phản hồi tích cực, để từ đó bổ sung, khắc phục khiếm khuyết cho quá trình đào tạo. Sự kết hợp giữa nhà trường và đơn vị trong quá trình đào tạo là quan hệ hữu cơ giữa học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế chiến đấu, công tác của người sĩ quan. Chính từ sự kết hợp đó đã tạo ra ý tưởng để ông đề xuất với Ban Giám hiệu báo cáo Bộ Tư lệnh cho giáo viên nhà trường đi thực tế làm cán bộ chỉ huy các đơn vị Biên phòng để bồi dưỡng kiến thức thực hành cho quá trình giảng dạy. Những giáo viên và học trò năm xưa, nhiều người nay đã trưởng thành, giữ cương vị quan trọng trong và ngoài lực lượng Bộ đội Biên phòng, gặp lại ông, họ đều tỏ lòng biết ơn và kính trọng đối với người thầy của mình.

Đầu năm 1987, Trung tá Phạm Hữu Bồng được điều động làm Chỉ huy phó, sau một thời gian ngắn được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Công an tỉnh Lai Châu, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh. Rời Trường sĩ quan đến với Lai Châu, miền đất tận cùng Tây Bắc vừa quen, vừa lạ. Quen vì thời làm lính tham gia chiến dịch Điện Biên, ông đã có những tháng ngày công tác trên địa bàn này. Lạ vì bao nhiêu năm "vật đổi sao dời", cuộc sống, con người đâu còn nguyên như cũ... Lai Châu, một tỉnh biên giới, phía bên kia là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, phía Đông là tỉnh Lào Cai, còn Tây và Nam tiếp giáp với nước bạn Lào. Lai Châu có 60% diện tích là núi, có độ cao trung bình là 1.000m. 90% diện tích có độ dốc 25%. Xen kẽ là những thung lũng có địa hình bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, lòng chảo Điện Biên. Ông hiểu rất rõ khí hậu vùng này. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa mưa, nước về xối xả, lũ quét khủng khiếp. Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là mùa khô, khí hậu giá buốt, có sương muối, băng giá. Tất cả đặc điểm tự nhiên trên ảnh hưởng rất lớn đến công tác biên phòng mà người chỉ huy không thể bỏ qua. Những năm 80 của thế kỷ trước, đất nước còn nhiều khó khăn về kinh tế, ảnh hưởng không nhỏ đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Đường giao thông ở Lai Châu chưa phát triển, việc đi lại đến các đồn Biên phòng chủ yếu là đi bộ. Từ Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đến đồn Biên phòng, có điểm phải đi bộ cả tuần mới đến nơi. Đặc biệt tuyến A Pa Chải, Leng Su Sìn là tuyến cực kỳ khó khăn. Việc tiếp tế cho các đồn Biên phòng mỗi chuyến đi, về mất 15 ngày, mỗi người gùi được 15kg gạo. Có lần, Phòng Hậu cần Bộ đội Biên phòng tỉnh dùng ngựa chở hàng Tết cho Đồn Leng Su Sìn, do đường đi khó khăn, đèo cao, suối sâu, ngựa chết dọc đường nên bánh kẹo, lịch Biên phòng, pin nghe đài, dầu thắp đèn, báo chí đều không kịp đến cho đơn vị đón Tết. Biết chuyện đó, Chỉ huy trưởng Phạm Hữu Bồng rất buồn. Những người lính quanh năm vất vả bám trụ cùng dân ở vùng khó khăn, hiểm trở, họ mong ngóng ngày Tết cổ truyền để chia vui với đồng bào, đồng chí, mong có pin để nghe đài, báo để đọc, lịch để biết ngày tháng, mà vẫn chưa có được. Ông giao nhiệm vụ cho Phòng Tham mưu cùng Phòng Hậu cần liên hệ thuê ngựa của dân chở bằng được hàng Tết cho Đồn Leng Su Sìn và tổ chức cho Đồn ăn Tết lại. Cái Tết năm đó, đồn Leng Su Sìn cùng dân bản Hà Nhì ăn Tết muộn, nhưng vẫn ấm áp tình cảm, bởi trong đó có sự quan tâm, chia sẻ của Chỉ huy trưởng Phạm Hữu Bồng. Bên ánh lửa bập bùng, trong tiếng trống, tiếng khèn rộn rã, từng đôi bàn tay trai gái Hà Nhì đan kết với bàn tay những chiến sĩ biên phòng cho vòng xòe thêm rộng. Nó như biểu tượng của sức mạnh, tạo nên lũy thép biên phòng nơi địa đầu biên giới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn