Thiếu Tướng Trần Tử Bình
Sự nghiệp cách mạng của Thiếu Tướng Trần Tử Bình
NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
“Thiếu tướng Trần Tử Bình”
1. Tiểu sử và cuộc đời của ông:
Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu, sinh ngày 5/5/1907, trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Công giáo tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông mất ngày 5/5/1907 tại bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, Hà Nội. Đối với ông, lòng yêu nước - khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc và đức tin tôn giáo luôn song hành với nhau, không hề có sự đối lập hay mâu thuẫn. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và chính trị của mình, ông luôn nhận được sự động viên mạnh mẽ và nhiệt thành từ bà Nguyễn Thị Hưng - người vợ, người đồng chí của ông (bà cũng là người có công lớn trong các phong trào cách mạng). |
Hai ông bà có 8 người con (6 trai 2 gái) đều lấy họ Trần theo tên hoạt động cách mạng của ông: Trần Yên Hồng, Trần Kháng Chiến, Trần Thắng Lợi, Trần Kiến Quốc, Trần Thành Công, Trần Hữu Nghị, Trần Hạnh Phúc, Trần Việt Trung. Mỗi tên đều gắn với sự kiện của đất nước.
2. Hoạt động và đóng góp cho Cách mạng:
Phong trào Phú Riềng Đỏ 1930
Vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên để tang cụ Phan Chu Trinh. Việc làm của ông bị coi là hành động "chính trị" và trái với lệnh cấm của các cha bề trên tại chủng viện. Một phần vì khi ấy Chủng viện chịu sự quản thúc của thực dân Pháp, một phần vì đây là giáo luật của giáo hội Công Giáo: “Các chủng sinh và giáo sĩ không được can dự vào các hoạt động hoặc các phong trào dân sự có tính chính trị, đảng phái để giữ sự trung lập và tập trung vào việc học đạo”, nên cuối năm 1926 ông bị đuổi học. Năm 1927, được Tống Văn Trân lý giải về tinh thần yêu nước (khác với sự nóng vội bộc phát lúc đi học), được tiếp cận với tư tưởng cách mạng tiến bộ, ông đã ký hợp đồng vào Nam Bộ làm phu đồn điền cao su Phú Riềng.
Tại Phú Riềng, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tháng 10-1929, là đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng tại chi bộ Phú Riềng.
Cuối năm 1929, thay Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư chi bộ. Đầu năm 1930, chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi quyền sống của 5.000 công nhân Phú Riềng, làm nên phong trào "Phú Riềng Đỏ" lịch sử. Sau sự kiện này, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, bị đày ra Côn Đảo.
Thời kỳ tù Côn Đảo 1931-1936
Ông vẫn tiếp tục học tập lý luận cách mạng, chủ nghĩa Marx-Lenin và đấu tranh đòi độc lập cho Việt Nam từ trong tù. Cũng trong quãng thời gian này ông đã kết thân với các nhà cách mạng cộng sản khác như: Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Trần Xuân Độ, Nguyễn Văn Phát,...
Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, ông được thả về đất liền nhưng vẫn chịu sự quản thúc ở quê nhà.
Thời kỳ hoạt động bí mật 1936-1945
Sau khi được trả tự do ông quay trở về Hà Nam, ông vừa làm thầy ký ở phố huyện Bình Lục vừa bí mật hoạt động cách mạng. Thời kỳ này ông đã lần lượt giữ các chức vụ trong Đảng bộ tỉnh Hà Nam như Bí thư chi bộ, Bí thư Huyện ủy Bình Lục và Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.
Năm 1940, ông được bầu là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách một số khu ủy ở miền Bắc.
Ngày 24/12/1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Đầu năm 1944, sau khi vượt ngục ở nhà tù Hà Nam bất thành, ông bị chuyển về nhà tù Hoả Lò - nhà tù tuyệt đối an toàn của chế độ thực dân Pháp. Tại đây, ông được bầu làm Trưởng ban sinh hoạt. Ngày 11/3/1945, lợi dụng sự kiện phát-xít Nhật hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, việc quản lý nhà tù Hỏa Lò lộn xộn và bị lơi lỏng, Trần Tử Bình cùng các tù chính trị cộng sản đã tổ chức cuộc vượt ngục nổi tiếng trong lịch sử theo đường cống ngầm, giải thoát cho gần 100 tù chính trị.
Sau khi thoát khỏi Hỏa Lò, ông trở về xây dựng Chiến khu Quang Trung (Chiến khu Hòa - Ninh – Thanh), giáp ranh các tỉnh: Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa.
Ngày 19/8/1945, với tư cách là Ủy viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, ông đã trực tiếp tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
* Sau năm Cách mạng tháng 8-1945, ông tham gia phục vụ quân đội và công tác ngoại giao. Đồng thời, ông cũng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng khi ấy.
3. Vinh danh và khen thưởng:
Khen thưởng
- Huân chương Sao Vàng (2008).
- Huân chương Hồ Chí Minh (2001).
- Huân chương Độc lập hạng Nhất (1967).
- Huân chương Quân công hạng Ba.
- Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.
- Kỉ niệm chương Vì sự nghiệp Ngoại giao.
Vinh danh: Tên ông được gắn biển trên một số tuyến đường của các thành phố như:
- Phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
- Huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh.
- Quận Cẩm Lệ - TP. Đà Nẵng
- Huyện Hoà Vang, TP. Đà Nẵng.
- Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Thành phố Phủ Lý - Tỉnh Hà Nam
- Huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Phường Phước Long, TP. Nha Trang, Khánh Hoà.



