Thiếu tướng Trần Tử Bình ''Tôi luyện nơi ngục lửa''
Cuộc đời của Thiếu tướng Trần Tử Bình gắn liền với những biến động của lịch sử đất nước, sự ra đời và dần lớn mạnh của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Từ một người nông dân nghèo khổ, trưởng thành trong phong trào đấu tranh ở đồn điền cao su ở Nam Bộ, đến người cộng sản thuộc lớp đảng viên đầu tiên, thành lập công đoàn, lãnh đạo bãi công.
Sau sự kiện “Phú Riềng đỏ”, Phạm Văn Phu và hàng trăm công nhân bị bắt, bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo, mở đầu cho những năm tháng tù đày trong cuộc đời hoạt động cách mạng. Với kết luận của cơ quan Phòng Nhì Pháp: “Đây là một thành phần có đầu óc nổi loạn”, Phu đã phải chịu đựng những ngón đòn tra tấn dã man trong nhiều ngày tháng. Nhưng bù lại, ông được gặp lại nhiều đồng chí và bạn chiến đấu, trong đó có 2 “người thầy cách mạng” là Tống Văn Trân và Ngô Gia Tự.
Sau Phú Riềng, giữa trùng khơi Côn Đảo, Phu tiếp tục được Đảng đào tạo, tiếp tục học tập lý luận cách mạng, Chủ nghĩa Mác - Lênin. Ông kết thân với các đồng chí Cộng sản yêu nước như Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương… Sau này họ đều trở thành những cán bộ cốt cán của cách mạng Việt Nam.

Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, Phu được chính quyền thực dân trả về đất liền và quản thúc tại quê nhà Hà Nam. Về lại Bình Lục, ông làm thầy ký ở phố huyện nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bí mật. Ông lần lượt giữ các chức vụ khác nhau trong Đảng bộ tỉnh Hà Nam, như Bí thư Chi bộ, Bí thư Huyện ủy Bình Lục, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.
Năm 1941, ông được chỉ định vào Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách liên tỉnh C (Hà Nam - Nam Định - Thái Bình - Ninh Bình) vào năm 1940 và 1943; liên tỉnh D (Vĩnh Yên - Phúc Yên - Phú Thọ - Tuyên Quang) năm 1941. Ngày 24/12/1943, trên đường từ Nam Định sang Thái Bình, ông bị bọn mật thám Pháp bắt và bị giam tại các nhà giam ở Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn, đánh đập nhưng không moi được bất cứ thông tin gì từ ông. Ở Hà Nam, ông tìm cách vượt ngục nhưng bất thành. Khoảng đầu tháng 4/1944, ông bị giải về Hà Nội và bị đẩy vào nhà tù Hỏa Lò với cái án 20 năm tù cộng 10 năm khổ sai.



