Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Từ Người Phu Cao Su Đến Vị Tướng Cách Mạng Kiên Trung

Lê Văn Quản

Ninh Bình12/08/2026phường Thủy Nguyên (phường Thủy Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Thân Thế và Thời Niên Thiếu

Thiếu tướng Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu (có tài liệu ghi là Phạm Văn Phú), sinh ngày 5 tháng 5 năm 1907. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Công giáo tại thôn Đồng Chuối, xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Bình Sơn, tỉnh Ninh Bình). Ông mang tên Thánh là Phê-rô Phạm Văn Phu. Biệt danh cách mạng "Trần Tử Bình" do ông tự chọn sau này mang ý nghĩa rất đặc biệt: "sống phong trần, lãng tử, dám xả thân vì chính nghĩa, bình đẳng".

Thuở nhỏ, với tư chất thông minh và chăm chỉ học hành, ông sớm biết đọc và biết viết. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó và cha ông phải đi lính thợ sang Pháp trong Thế chiến thứ nhất, năm 1925, ông được giới thiệu và gửi đi học tại Chủng viện Hoàng Nguyên thuộc giáo phận Hà Đông. Tại đây, ông được tiếp xúc với các loại sách báo yêu nước tiến bộ của Đông Kinh nghĩa thục, Cách mạng Tân Hợi... và sớm nảy nở lòng yêu nước nồng nàn. Cuối năm 1925 và tháng 4 năm 1926, do đứng đầu phong trào giáo sinh chủng viện ủng hộ cuộc đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu và tổ chức lễ để tang cụ Phan Châu Trinh, Trần Tử Bình đã bị đuổi học.

2. Hành Trình Cách Mạng Khởi Đầu Từ "Phú Riềng Đỏ" (1927 - 1930)

Sau khi bị đuổi học, ông làm nghề giảng đạo kiếm sống và được nhà giáo yêu nước hương sư Vĩnh Trị giới thiệu với nhà cách mạng Tống Văn Trân. Được Tống Văn Trân giác ngộ lý tưởng, ông quyết định đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1927, ông vào miền Nam tham gia phong trào "vô sản hóa" tại đồn điền cao su Phú Riềng của hãng Michelin.

Tại đồn điền Phú Riềng – nơi vốn bị coi là "địa ngục trần gian" của phu cao su, Trần Tử Bình hăng hái vận động công nhân đấu tranh đòi giới chủ thực hiện đúng cam kết hợp đồng, trả đủ lương và chấm dứt việc cúp phạt, bạo lực. Nhờ sự xông xáo, quả cảm và dũng khí của mình, ông nhận được sự tin cậy tuyệt đối từ đông đảo anh em phu.

  • Tháng 5 năm 1928, dưới sự định hướng của đồng chí Ngô Gia Tự, ông vinh dự được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội.

  • Đêm ngày 28 tháng 10 năm 1929, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng tại đồn điền Phú Riềng chính thức được thành lập gồm 6 đảng viên, trong đó có Trần Tử Bình. Cuối năm 1929, ông được tổ chức phân công làm Bí thư Chi bộ.

  • Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, hơn 5.000 công nhân cao su đã nổi dậy bãi công đòi quyền sống quyết liệt, làm tê liệt toàn bộ hệ thống đồn điền, tạo nên sự kiện "Phú Riềng Đỏ" vang dội trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam.

  • Mặc dù giành thắng lợi về mặt yêu sách, thực dân Pháp sau đó đã tiến hành đàn áp dữ dội và bắt giữ Trần Tử Bình cùng các đồng chí lãnh đạo phong trào. Cuối năm 1930, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

    3. Kiên Cường Qua Sóng Gió Ngục Tù Và Cuộc Vượt Ngục Hỏa Lò Lịch Sử (1931 - 1945)

    Trong những năm tháng từ 1931 đến 1936 bị giam cầm tại Côn Đảo, Trần Tử Bình vẫn giữ vững ý chí sắt đá, tích cực học tập lý luận, tham gia xây dựng tổ chức Đảng trong nhà tù và kết thân với nhiều nhà cách mạng tiền bối. Năm 1936, nhờ thắng lợi của Mặt trận Bình dân tại Pháp, ông được trả tự do nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt ở quê nhà Hà Nam.

    Dù bị quản thúc, ông vẫn âm thầm gây dựng lại hệ thống cơ sở cách mạng, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Bí thư Huyện ủy Bình LụcBí thư Tỉnh ủy Hà Nam. Năm 1940, ông được bầu làm Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp phụ trách Bí thư Khu ủy khu C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) và năm 1941 là Bí thư Khu ủy khu D.

    Ngày 24 tháng 12 năm 1943, ông bị mật thám Pháp bắt giữ lần thứ ba tại Thái Bình. Đầu năm 1944, sau khi vượt ngục tại nhà tù Hà Nam bất thành, ông bị áp giải về giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Tại đây, với tư cách là Trưởng ban sinh hoạt của tù chính trị, ông tiếp tục tổ chức huấn luyện bồi dưỡng đường lối chính trị, quân sự của Việt Minh cho các đồng chí trong ngục.

    Nhận thấy thời cơ lộn xộn sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Trần Tử Bình đã trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộc "vượt ngục lịch sử" bằng đường cống ngầm vào các tối 11 và 12 tháng 3 năm 1945, giải thoát thành công cho gần 100 tù nhân chính trị cách mạng cốt cán (trong đó có các đồng chí Đỗ Mười, Trần Đăng Ninh, Nguyễn Cơ Thạch...). Sau cuộc vượt ngục chấn động này, ông lấy bí danh chính thức là Trần Tử Bình.

    Trở về hoạt động, ông được bầu làm Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách xây dựng Chiến khu Quang Trung (Hòa - Ninh - Thanh). Tháng 8 năm 1945, ông cùng đồng chí Nguyễn Khang tổ chức hội nghị Thường vụ Xứ ủy quyết định khởi nghĩa và thành lập Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông trực tiếp chỉ huy đánh chiếm Bắc Bộ Phủ và bắt Phủ Khâm sai đầu hàng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại thủ đô Hà Nội đến thắng lợi hoàn toàn.

    4. Đóng Góp To Lớn Cho Quân Đội Và Ngoại Giao Nước Nhà (1945 - 1967)

    Sau Cách mạng tháng Tám, Thiếu tướng Trần Tử Bình liên tục được Đảng, Chính phủ tin tưởng giao phó nhiều trọng trách:

    • Trong lĩnh vực Quân sự & Đào tạo: Ông làm Phó giám đốc kiêm Chính trị ủy viên (Chính ủy) Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn); từ năm 1947 đến 1950, ông là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương phụ trách công tác kiểm tra Đảng. Cuối năm 1947, ông cùng Lê Thiết Hùng trực tiếp chỉ huy chiến dịch Đường số 2 - Sông Lô giành thắng lợi lớn.

  • Thụ phong Thiếu tướng: Tháng 1 năm 1948, ông vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam. Trong thời gian này, ông cũng giữ chức Phó Tổng thanh tra Quân đội, kiêm Công tố viên của Tòa án quân sự tối cao trong vụ xử án Trần Dụ Châu năm 1950.

  • Công tác đào tạo và thanh tra chính phủ: Từ năm 1950 đến 1956, ông là Chính ủy Trường Lục quân Việt Nam (khi đó đặt tại Trung Quốc). Sau đó từ 1956 đến 1959, ông làm Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra Chính phủ, có nhiều đóng góp lớn trong việc làm trong sạch bộ máy nhà nước hậu chiến.

  • Sứ mệnh Ngoại giao xuất sắc: Năm 1959, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước VNDCCH tại Trung Quốc kiêm nhiệm Mông Cổ. Trong suốt 8 năm đảm nhận vai trò ngoại giao, ông được bầu làm Trưởng Đoàn ngoại giao tại Bắc Kinh đại diện cho các quốc gia. Bằng bản lĩnh, sự khôn khéo và mềm dẻo ngoại giao xuất chúng, ông đã phối hợp gỡ rối xuất sắc mâu thuẫn chính trị Trung - Xô, giúp Việt Nam giữ vững sự ủng hộ và viện trợ quan trọng của Trung Quốc phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

  • Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội khóa II và khóa III.

    Vào ngày 11 tháng 2 năm 1967 (nhằm mùng ba Tết Đinh Mùi), trong một chuyến về nước tham gia họp, ông bị đột quỵ và từ trần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô vì một cơn bạo bệnh, hưởng thọ 60 tuổi. Tang lễ của ông được cử hành trọng thể theo nghi thức cấp Nhà nước và ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

    5. Đời Tư Và Gia Đình Cách Mạng Mẫu Mực

    Một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời Thiếu tướng Trần Tử Bình là sự đồng hành bền bỉ của người vợ, người đồng chí kiên trung của ông – bà Nguyễn Thị Hưng (tên khai sinh là Nguyễn Thị Ức, bí danh Tân, Đề). Bà Nguyễn Thị Hưng từng là giao liên thuộc quyền ông tại Liên khu C trước khi kết duyên vợ chồng. Bà là tấm gương cách mạng kiệt xuất của phong trào phụ nữ các tỉnh phía Bắc, nổi bật nhất là chiến tích trực tiếp chỉ huy nhân dân phá kho thóc Đống Long cứu đói năm 1945 khi đang mang thai (nguyên mẫu nhân vật chị Nhu trong bộ phim điện ảnh lịch sử đoạt giải Bông Sen Vàng "Sao Tháng Tám"). Sau ngày hòa bình, bà giữ chức Chánh Thanh tra Bộ Ngoại thương.

    Mặc dù lấy biệt danh hoạt động là Trần Tử Bình, 8 người con (6 trai, 2 gái) của ông bà đều thống nhất lấy họ Trần để vinh danh hành trình cách mạng của cha mình, song không quên họ gốc Phạm. Tất cả các con của ông đều mang những cái tên gắn chặt với các sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia: Yên Hồng (1945), Kháng Chiến (1946), Thắng Lợi (1951), Kiến Quốc (1952), Thành Công (1954), Hữu Nghị (1955), Hạnh Phúc (1956) và Việt Trung (1959).

    6. Sự Ghi Nhận Và Vinh Danh Cao Quý

    Cả cuộc đời kiên cường chiến đấu và cống hiến trọn vẹn, Thiếu tướng Trần Tử Bình đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân vinh danh thông qua hàng loạt huân huy chương vô giá:

    • Huân chương Sao Vàng (truy tặng năm 2008).

  • Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng năm 2001).

  • Huân chương Độc lập hạng Nhất (truy tặng năm 1967).

  • Huân chương Quân công hạng BaHuân chương Chiến thắng hạng Nhất.

  • Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Ngoại giao.

  • Tên của vị Thiếu tướng Công giáo lỗi lạc đã được trang trọng đặt cho nhiều con đường tại các đô thị lớn trên cả nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Phủ Lý, Bình Lục... nhằm ghi nhớ đời đời công lao to lớn của một nhân cách mẫu mực.


    Các nguồn truy xuất:

    1. Trần Tử Bình – Wikipedia tiếng Việt

  • Nguyễn Thị Hưng – Wikipedia tiếng Việt

  • Thiếu tướng Trần Tử Bình: Tấm gương sáng để lớp lớp cán bộ, chiến sĩ

  • Trần Tử Bình - vị tướng bản lĩnh và khiêm nhường - Báo Biên phòng

  • Truy tặng Huân chương Sao Vàng cho đồng chí Trần Tử Bình - Báo Quân đội nhân dân

  • Cuộc đời Tướng Trần Tử Bình qua ngòi bút con trai - Báo Nhân Dân

  • Trần Tử Bình – Từ phu cao-su đến vị tướng cách mạng | Câu chuyện thời hoa lửa

  • Gia đình Thiếu tướng Trần Tử Bình đến thăm nhà tù Hỏa Lò - Znews

  • “Phú Riềng Đỏ” tô thắm trang sử vàng dân tộc - Báo Đồng Nai

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn