Thiếu tướng Võ Sở - Từ người lính Quảng Ngãi đến những năm tháng gian khổ trên đường Trường Sơn
Từ người lính Quảng Ngãi đến những năm tháng gian khổ trên đường Trường Sơn
Thiếu tướng Võ Sở sinh ngày 14/8/1929, quê huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (cũ). Ông nhập ngũ năm 1947, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp kéo dài 47 năm, trải qua các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ và những năm xây dựng quân đội sau ngày đất nước thống nhất.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng chiến đấu tại nhiều chiến trường và giữ cương vị Chính trị viên phó tiểu đoàn. Tháng 6/1954, ngay trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, ông tham gia trận phục kích tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100 của quân Pháp trên đường 19, khu vực đèo An Khê. Trong trận đánh này, ông bị mảnh đạn pháo găm vào đầu, để lại một vết sẹo sâu.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng và củng cố lực lượng, trong khi cách mạng miền Nam ngày càng cần sự chi viện từ hậu phương.

Thiếu tướng Võ Sở nguyên Phó tư lệnh về chính trị Binh đoàn 12, Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh Việt Nam. Ảnh: Dân Việt
Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đề ra chủ trương mở đường vận chuyển, tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam. Ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” mở đường vận chuyển hàng quân sự, đưa đón bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại. Đoàn do đồng chí Võ Bẩm tổ chức và phụ trách. Tuyến đường sau này mang tên Đường Hồ Chí Minh - Đường Trường Sơn, mang số hiệu 559.
Trong suốt giai đoạn 11 năm chiến đấu Trường Sơn, ông Võ Sở được phân công làm Trưởng phòng Tổ chức, Chính ủy Binh trạm, rồi Phó chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559. Năm 1964, ông được điều vào Trường Sơn thực hiện nhiệm vụ mới. Đây cũng là thời điểm Bộ đội Trường Sơn chuyển mạnh từ phương thức gùi thồ sang vận chuyển cơ giới, mở đường ô tô để đưa khối lượng lớn vũ khí, lương thực và hàng hóa vào chiến trường.
Nhận nhiệm vụ trên tuyến lửa, đồng chí Võ Sở mang theo mong muốn được trở về chiến đấu, góp sức giải phóng quê hương Quảng Ngãi. Nhưng trước mắt ông là một chiến trường đặc biệt khắc nghiệt: những dãy núi cao, địa hình hiểm trở, khí hậu dữ dội và mạng lưới giao thông liên tục bị máy bay Mỹ đánh phá.
Để đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng lớn, Bộ đội Trường Sơn phải gấp rút mở các tuyến đường cơ giới, đặc biệt là tuyến phía Tây Trường Sơn. Từ những con đường nhỏ ban đầu, lực lượng công binh từng bước mở rộng thành những tuyến vận tải có khả năng đưa xe cơ giới, súng đạn, lương thực và các loại hàng hóa vào chiến trường.
Trong những năm ở Trường Sơn, có thời gian ông còn mắc sốt rét ác tính, rơi vào hôn mê suốt gần 30 ngày. Đồng đội từng nghĩ ông khó qua khỏi. Thế rồi ông tỉnh lại sau những ngày dài mê man. “Tôi cũng không biết sức mạnh nào giúp tôi có thể vực dậy như vậy” - Thiếu tướng Võ Sở từng chia sẻ.
Kỷ niệm “cãi” Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên
Ngày 4/11/1968, Mỹ huy động máy bay B-52 và máy bay cường kích đánh phá dữ dội các trọng điểm ATP trên Đường 20 Quyết Thắng và Seng Phan trên Đường 12. Trọng điểm Seng Phan thuộc Binh trạm 31, khi đó Võ Sở là Chính ủy. Trên đoạn đường dài khoảng 2 km, rộng 200 m, trong 7 ngày đêm, khoảng một vạn quả bom các loại trút xuống, khiến con đường gần như bị xóa sổ, chỉ còn những cồn đá và hố bom lớn. Các điểm kho, hang cũng bị oanh tạc.
Đường bị đánh tắc, hàng hóa từ ngoài đưa vào không có chỗ chứa. Lái xe phải dỡ hàng xuống hai bên đường rồi quay xe. Tình hình khiến Bộ Tư lệnh 559 liên tục thúc giục Binh trạm 31. Có ngày, điện thoại từ Bộ Tư lệnh gọi xuống không dưới 5 lần.

Chính ủy Võ Sở kiểm tra tại trọng điểm Phu Dơ Tuya năm 1973. Ảnh: QĐND.
Một sáng, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên gọi điện, giọng gay gắt: “Anh có làm được không thì để tôi thay người khác. Nguy kịch lắm rồi”. Trước sức ép ấy, Võ Sở vẫn báo cáo thẳng tình hình. Ông nói: “Tư tưởng của chúng tôi bất di bất dịch là đánh địch, mở đường mà đi, mở đường mà vận chuyển cho chiến trường”. Đồng thời, ông xin được tìm phương án giải tỏa phù hợp, hạn chế thương vong, bởi tại trọng điểm ngày nào cũng có người hy sinh.
Sau cuộc trao đổi, Bộ Tư lệnh tăng cường cho Binh trạm 31 một trung đoàn công binh, yêu cầu chậm nhất ngày 25/11 phải giải tỏa xong Seng Phan. Có thêm lực lượng, Binh trạm 31 làm thêm 10 km tuyến tránh phía tây trọng điểm. Trên tuyến chính, bom đạn vẫn dồn dập trút xuống. Trong quá trình quan sát thực địa, Võ Sở nảy ra sáng kiến làm những con đường chạy chéo giữa hai bờ sông. Nếu một bên bị đánh tắc, xe có thể chuyển sang bờ bên kia để tiếp tục hành quân.
Cuộc chiến đấu diễn ra từng giờ, từng phút, công binh bám tuyến, phá bom, san lấp mặt đường. Đến đúng 17 giờ ngày 25/11/1968, ba phát súng lệnh vang lên. 100 xe của Tiểu đoàn 101 chở đầy hàng rùng rùng vượt trọng điểm Seng Phan an toàn.
Sau này, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên nói lại với ông: “Lúc ấy tôi bức bách quá nên nói thế, các đồng chí phải hết sức cố gắng”.
Đầu năm 1970, đồng chí Võ Sở được điều về làm Chính ủy Binh trạm 42, phụ trách tuyến vận chuyển từ Đường 128 (La Hạp) theo đường B45 giao hàng cho Trị - Thiên và bắc Khu 5. Binh trạm 42 là số ít các binh trạm của Đoàn 559 vừa phải chiến đấu với bom đạn từ trên trời, vừa phải chiến đấu với bộ binh địch, được mệnh danh là “Binh trạm lửa”
Tháng 6/1970, mưa liên tục khiến tuyến đường lầy lội, tại A Lưới xuất hiện những “túi nước” sâu và kéo dài vài kilômét. Một buổi sáng, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên lệnh cho Binh trạm 42 dùng 20 xe vận tải khẩn cấp chở hàng giao cho Quân khu 5.
Sau khi hội ý, Võ Sở báo cáo không thể dùng xe tải qua A Lưới. Ông đề xuất tăng cường công binh hộ tống, dùng xe con kết hợp gùi, thồ. Tư lệnh yêu cầu nghiên cứu lại. Đến chiều, Võ Sở vẫn giữ nguyên phương án và báo cáo lại. Tư lệnh nói gay gắt: “Sao anh cãi tôi, cứ làm theo lệnh”.
Chỉ huy Võ Sở tiếp tục giải thích rằng phương án được đưa ra từ tình hình thực tế và bài học thử nghiệm xe tải cơ giới không thành trong mùa mưa năm 1968. Tuy nhiên, Tư lệnh vẫn giữ quyết định, Binh trạm 42 chấp hành. Tuy nhiên, khi đoàn 20 xe qua “túi nước” A Lưới, một số xe bị bắn cháy, một số xe hỏng nặng, đơn vị phải kéo xe vào hai bên đường, số hàng còn lại được tổ chức gùi, thồ để tiếp tục chi viện cho Trị - Thiên.
Tại Hội nghị tổng kết mùa khô, ông Võ Sở thẳng thắn phê bình Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên. Ông cũng thẳng thắn tự phê bình, xin lỗi và thừa nhận khi ra mệnh lệnh đã không nắm vững tình hình, chưa nghiên cứu kỹ đề xuất của cấp dưới và xin rút kinh nghiệm.
Từ người chỉ huy tuyến đường Trường Sơn đến người giữ lửa truyền thống
Bước vào năm 1975, tuyến Trường Sơn chuyển sang nhiệm vụ mới với quy mô lớn hơn. Không chỉ vận chuyển vũ khí, lương thực, tuyến đường còn phải bảo đảm đưa lực lượng chủ lực với tốc độ cao vào chiến trường phía Nam. Tháng 3/1975, ông Võ Sở là Phó chủ nhiệm Chính trị Binh trạm 12, thành viên Bộ Tư lệnh Tiền phương.
Những ngày tháng 4/1975, ông Võ Sở được Bộ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn giao bám đốc chiến Sư đoàn 471 chuyển nhanh hơn 6.000 tấn đạn pháo lớn và khí tài vật tư bảo đảm cho chiến trường. Trên đường hành tiến vào Sài Gòn, ông được phép về Ninh Hòa thăm mẹ, thăm quê. Sau cuộc gặp gỡ vội vàng, ông lập tức trở lại đơn vị, cùng bộ phận tiền phương của Bộ Tư lệnh Trường Sơn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đường Trường Sơn lúc này đã phát triển thành một hệ thống vận tải chiến lược quy mô lớn. Từ những tuyến đường bí mật ban đầu, hệ thống đã phát triển thành mạng lưới dài hơn 20.000km với 5 trục dọc và 21 trục ngang, kết nối các chiến trường ở Việt Nam và Lào. Hệ thống đường ống xăng dầu cũng được xây dựng, với tổng chiều dài khoảng 1.400km và sau đó mở rộng lên gần 5.000km.

Lực lượng Thanh niên xung phong Trị Thiên mở đường Trường Sơn, nối liền hệ thống giao thông liên tỉnh phục vụ sản xuất và đời sống vùng giải phóng. Ảnh: TTXVN.
Trong những ngày cuối cuộc chiến, tuyến đường ấy tiếp tục bảo đảm cho các đơn vị chủ lực tiến nhanh về phía Nam. Theo ký ức của ông Võ Sở, ban đầu lực lượng Trường Sơn dự kiến cần khoảng 3 tháng để đưa ba quân đoàn vào chiến dịch, nhưng thực tế chỉ mất khoảng 20 ngày để hoàn thành nhiệm vụ trên đoạn tuyến bị đánh phá ác liệt nhất.
Ngày 30/4/1975, ông cùng đơn vị tiến vào đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu và Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí Võ Sở trở ra Bắc, tham gia ban lãnh đạo Binh đoàn Trường Sơn - Binh đoàn 12, sau đó trở về Cục Tổ chức giữ chức Phó cục trưởng, Bí thư Đảng ủy. Ông tiếp tục học tại Trường Quân sự cấp cao rồi trở lại Binh đoàn 12 công tác cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ trong quân ngũ.
Sau khi nghỉ công tác trong quân đội, Võ Sở tiếp tục gắn bó với những người đồng đội năm xưa. Ông cùng các cựu chiến binh thành lập Ban liên lạc cựu chiến binh Trường Sơn, tổ chức các hoạt động tri ân, tìm kiếm đồng đội, xây dựng các công trình ghi dấu lịch sử và giúp đỡ những cựu chiến binh còn khó khăn.
Ngày 13/5/2011, Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam được thành lập. Võ Sở, khi đó là Trưởng ban liên lạc, được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội. Hội tập trung vào hai chương trình lớn là truyền thống và tình nghĩa, trong đó có xây dựng di tích lịch sử trên đường Hồ Chí Minh, hỗ trợ đồng đội và tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.
Năm 2024, khi đã 95 tuổi, ông vẫn tham gia các hoạt động của Hội, nhớ rõ những địa danh, con số và câu chuyện của một thời chiến đấu trên Trường Sơn. Năm 2026, ở tuổi 97, ông vẫn giữ cương vị Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam và tiếp tục tham gia các hoạt động kết nối, tri ân đồng đội.
(Tư liệu tham khảo: Báo Quân đội nhân dân, Báo Nhân dân, TTXVN, Báo Tiền phong)



