Thời gian cấp bách: Dùng máy bay vận chuyển đạn pháo từ miền Bắc vào Tây Nguyên.
Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi, tạo đột biến về chiến dịch và chiến lược, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Miền Nam. Từ Tây Nguyên, công tác chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn được Tư lênh mặt trận gấp rút chuẩn bị. Thiếu tướng Lê Xuân Kiện nhớ lại buổi làm việc nhanh chóng với Tổng tham mưu Văn Tiến Dũng về vấn đề pháo xe tăng chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn: 14 giờ 30 phút, Văn phòng Bộ Tư lệnh Tây Nguyên gọi điện cho tôi sang làm việc với Tổng tham mưu Văn Tiến Dũng, Đại tướng nói: Anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) ở Hà Nội sẽ vào Tây Nguyên, chúng ta phải khẩn trương giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Xe tăng của B3 khả năng chiến đấu tiếp có khó khăn gì không?
Tôi đáp: Toàn bộ xe tăng thiết giáp của B3 qua hai trận chiến đấu tiêu tiệt Buôn Ma Thuột và Cheo Reo đều tốt… khí tài kỹ thuật, dầu ma dút, dầu nhớt còn đủ. Khó khăn lớn nhất của lực lượng xe tăng là thiếu đạn pháo 100 ly không đủ một xe hai cơ số đạn. Đánh Sài Gòn, mỗi xe cần có 2-2.5 cơ số đạn.
Đại tướng hỏi tiếp: cậu đã đi các kho vũ khí của B3 kiểm tra chưa?
Tôi: Trước khi mở chiến dịch, tôi đã đi các kho B3 xem đạn pháo, đạn 12,7 ly, đạn súng máy trên xe tăng, thì đạn pháo 100 ly đã hết”.
Đại tướng lo lắng: Bây giờ làm thế nào để có đạn pháo xe tăng để đánh Sài Gòn?;
Tôi: “Đề nghị thủ trưởng điện cho Tổng cục Hậu cần chở đạn pháo 100 ly từ miền Bắc và Tây Nguyên”.
Đại tướng: Thời gian gấp lắm rồi, chúng ta phải giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa năm nay.
Tôi: Nếu đạn pháo chở bằng ô tô từ miền Bắc vào Tây Nguyên thì không kịp, mùa mưa ở miền Nam bắt đầu từ tháng 5, từ nay đến tháng 5 ta còn 1 tháng, tôi đề nghị Tổng tham mưu trưởng điện cho Tổng cục Hậu cần, lấy đạn pháo 100 ly ở Kho Bộ Tư lệnh Tăng-thiết giáp đưa về Gia Lâm dùng máy bay IL-18 chở khoảng 2000 viên thì trong thời gia 1 tuần sẽ đảm bảo cho mỗi xe tăng 2-2.5 cơ số đạn ly 100.
Bàn bạc xong Đại tướng bảo: “Kiện sang cơ quan tham mưu làm việc với anh Lê Ngọc Hiền và bảo anh Hiền điện cho Tổng cục Hậu cần dùng máy bay vận tải IL-18 chở đạn pháo cho Tây Nguyên hạ cánh xuống sân bay Hòa Bình ở phía nam Buôn Ma Thuột khoảng 8 km”.
Chuẩn bị cho giải phóng Sài Gòn, ở thời điểm hiện tại miền Nam có thể tập trung được khoảng trên 400 xe trên tất cả các hướng đánh vào Sài Gòn - Gia Định, so với lực lượng thiết giáp của địch là khoảng gần 1700 – 1800 xe tăng, do đó Bộ chỉ huy đã điều 2 tiểu đoàn tăng T-54 của Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp tăng cường cho B2 bổ sung cho Quân đoàn I, đảm bảo sức đột kích cho quân đoàn.
Thượng tuần tháng 4, Bộ tư lệnh chiến dịch thông qua kế hoạch chiến dịch và quyết tâm chiến đấu của các quân đoàn trên 5 hướng tiến công vào Sài Gòn – Gia Định. Từ ngày 25 đến 30/4 trên các hướng tiến công của các quân đoàn đã nổ súng tiến công địch, tạo điều kiện nhanh chóng đánh thẳng và tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập, trụ sở Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn và các mục tiêu quan trong là sân bay Tân Sơn Nhất, Quân Cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Cảnh sát. Đặc biệt trên hướng đông nam Sài Gòn, Lữ đoàn tăng 203 được tăng cường một trung đoàn bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ đã nhanh chóng tiến công vào Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975.



