Bài viết

Thời Hoa Lửa (3)

Bắc Ninh12/06/2026Đàm Thị Thông4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời Hoa Lửa

Mỗi lần tháng Tư về, khi những chùm bằng lăng tím bắt đầu nở dọc con đường làng, bà tôi lại lặng lẽ mang chiếc ghế tre ra ngồi trước hiên nhà, mắt nhìn xa xăm về phía cánh đồng cuối xóm. Bà ngồi rất lâu, đôi bàn tay gầy guộc đặt lên đầu gối, như đang chờ đợi ai đó trở về từ con đường đất đỏ đã phủ đầy cỏ dại.

Tôi lớn lên trong những câu hỏi ngây thơ:

“Bà ơi, bà chờ ai vậy?”

Bà mỉm cười hiền hậu, nụ cười mỏng như sương sớm.

“Chờ một người đã đi xa.”

Ngày bé, tôi không hiểu “đi xa” nghĩa là gì. Tôi chỉ nghĩ đó là một nơi rất xa, xa hơn thị trấn, xa hơn tỉnh lỵ, nơi có lẽ phải đi mãi mới tới. Mãi sau này, khi lớn lên, tôi mới biết người bà chờ là ông tôi – người đã nằm lại trong chiến tranh khi tuổi đời mới ngoài hai mươi lăm.

Ông ra đi vào một buổi sáng mùa đông năm ấy. Khi đó cha tôi mới lên ba, còn bà chỉ vừa tròn hai mươi tuổi. Bà kể, hôm tiễn ông đi, cả làng ra tận đầu đình. Những người đàn ông khoác ba lô, vai súng thẳng hàng bước đi trong tiếng trống giục. Những người đàn bà đứng sau, tay ôm con nhỏ, mắt đỏ hoe nhưng không ai khóc thành tiếng.

Ông nắm tay bà, nói rất khẽ:

“Anh đi rồi sẽ về.”

Bà gật đầu, cắn chặt môi để nước mắt khỏi rơi.

Nhưng lời hẹn ấy kéo dài suốt cả đời người.

Chiến tranh tràn qua làng tôi như một cơn bão dữ. Ban ngày máy bay gầm rú trên đầu, ban đêm tiếng bom vọng từ phía núi xa. Người dân đào hầm dưới gốc mít, dưới bếp, ngoài vườn. Có những bữa cơm chưa kịp ăn xong đã phải ôm nhau chạy xuống hầm trú ẩn.

Bà tôi vừa nuôi con nhỏ, vừa thay chồng chăm sóc cha mẹ già, vừa ra đồng cấy lúa. Những mùa mưa rét, bà gánh phân ra ruộng khi trời còn tối mịt. Những mùa nắng hạn, bà đội nón mê đi tát nước đến nứt cả vai.

Có lần cha tôi ốm nặng vì sốt rét. Trong nhà không còn gạo, bà phải tháo đôi bông tai cưới đem đổi lấy vài bát thuốc nam và ít gạo tẻ. Bà bảo, lúc ấy chỉ sợ con không qua khỏi, còn mọi thứ khác chẳng còn nghĩa lý gì.

Đêm xuống, khi cả làng đã ngủ, bà mới thắp ngọn đèn dầu leo lét rồi ngồi vá áo. Có chiếc áo của ông để lại, bà vá đi vá lại nhiều lần nhưng không mặc, chỉ gấp cẩn thận để trong hòm gỗ.

Bà nói:

“Để khi ông về còn có cái mặc.”

Người làng ai cũng thương bà. Nhiều người khuyên:

“Có tin tức gì đâu, thôi thì nghĩ cho đời mình.”

Bà chỉ lắc đầu.

“Ông ấy hứa sẽ về.”

Một người phụ nữ trẻ đã sống bằng một lời hứa giản dị như thế suốt những năm tháng dài dằng dặc.

Rồi ngày hòa bình đến.

Cả làng rợp cờ đỏ. Người ta ôm nhau khóc, gọi tên những người trở về. Những người lính gầy đen, tóc cháy nắng, mang theo ba lô bạc màu bước qua cổng làng trong tiếng reo vui.

Bà cũng bế cha tôi đứng ở đầu đình từ sáng sớm. Bà chờ hết đoàn này đến đoàn khác. Người ta về gần hết, nhưng không có ông.

Chiều xuống, cán bộ xã mang đến một tờ giấy báo tử đã nhàu mép.

Bà nhìn tờ giấy rất lâu.

Không khóc.

Không ngất.

Không nói một lời.

Bà chỉ bế cha tôi quay vào nhà, khép cửa lại.

Mãi đến đêm, hàng xóm mới nghe tiếng bà nấc lên từng cơn như ai xé ruột.

Ông hy sinh ở chiến trường miền Nam, không tìm thấy hài cốt. Người ta chỉ biết ông ngã xuống trong một trận đánh lớn, cùng nhiều đồng đội khác.

Từ đó, bà không còn ngồi chờ ở đầu đình mỗi khi có đoàn xe về nữa. Nhưng tháng Tư nào bà cũng mang ghế ra hiên ngồi nhìn cánh đồng cuối xóm.

Có lẽ bà biết ông sẽ không về.

Nhưng trái tim bà chưa bao giờ thôi đợi.

Cha tôi lớn lên trong vòng tay của bà. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha. Cha kể, những ngày nghèo khó nhất, bà nhịn ăn để dành cơm cho con. Có lần cha hỏi:

“Mẹ ơi, sao mẹ không lấy chồng khác?”

Bà xoa đầu cha:

“Mẹ đã có cha con rồi.”

Cha cúi đầu khóc.

Thời gian trôi nhanh như nước chảy qua cầu. Cha tôi trưởng thành, lập gia đình, sinh ra tôi. Bà thành người già tóc bạc, lưng còng, mắt mờ. Nhưng trí nhớ của bà vẫn nguyên vẹn về ông.

Bà nhớ ngày ông mặc áo lính ra đi.

Nhớ chiếc khăn tay bà thêu vội tối hôm trước.

Nhớ lời ông hứa giữa buổi sáng mùa đông.

Một năm, nhà nước tổ chức quy tập hài cốt liệt sĩ vô danh về nghĩa trang tỉnh. Gia đình tôi đưa bà đến thắp hương. Giữa hàng ngàn ngôi mộ trắng, bà chống gậy đi thật chậm.

Bà dừng trước một ngôi mộ ghi dòng chữ: “Liệt sĩ chưa biết tên”.

Bà run run đặt bó hoa cúc xuống, rồi khẽ nói:

“Nếu ông nằm đây, thì tôi đến đón ông.”

Không ai cầm được nước mắt.

Tôi nhìn bà, lần đầu tiên hiểu rằng chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống của những người ra trận. Nó còn lấy đi tuổi xuân của những người ở lại, lấy đi những mái nhà trọn vẹn, lấy đi biết bao lời hẹn chưa kịp thành.

Bà mất vào một chiều tháng Tư, khi ngoài sân bằng lăng tím rơi đầy lối đi.

Trước lúc nhắm mắt, bà nắm tay cha tôi thì thầm:

“Nếu gặp lại ông ấy… nói rằng mẹ con mình sống tốt.”

Cha tôi òa khóc như một đứa trẻ.

Bây giờ bà và ông đã nằm cạnh nhau trong nghĩa trang gia đình, dù chỉ là nấm mộ tượng trưng dành cho ông. Mỗi năm, tôi vẫn về thắp hương vào tháng Tư. Những chùm bằng lăng tím vẫn nở như năm nào.

Người ta gọi chiến tranh là thời hoa lửa.

Bởi giữa khói bom, vẫn nở những bông hoa đẹp nhất của con người: lòng yêu nước, sự hy sinh, đức thủy chung và niềm tin không bao giờ tắt.

Còn với tôi, thời hoa lửa là hình ảnh bà ngồi trước hiên nhà, mắt hướng về con đường cũ, chờ một người đã đi xa suốt nửa đời người.

Một sự chờ đợi lặng thầm.

Đau đớn.

Nhưng đẹp hơn mọi lời ca tụng.

Và nếu hôm nay chúng ta được sống bình yên, đó là vì đã có một thế hệ đi qua mùa lửa ấy, để giữ lại cho mai sau những mùa hoa.

Tác giả bài viết: Cô giáo Đàm Thị Thông

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn