Thời hoa lửa
Tác phẩm kể về liệt sĩ Sái Văn Đeo - hạ sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Hi sinh ngày 19/02/1969 tại chiến trường miền Nam.
Ông là em trai của ông ngoại tôi.
Ông sinh ra trong một gia đình người Tày nghèo ở một huyện biên giới của tỉnh Lạng Sơn. Quê ông là nơi có những ngôi nhà trình tường đất dày, tường vàng sẫm nép mình dưới chân đồi vùng núi rừng biên cương. Bố mất sớm, một mình bà cụ tôi gồng gánh nuôi bốn anh em ông trong cảnh ăn cơm độn bữa đói bữa no, nhiều ngày không đủ cơm ăn. Tuổi thơ của ông là những con dốc đá trơn trượt, là những buổi theo mẹ lên nương với cái bụng lép kẹp, là đôi bàn chân trần lội suối, băng rừng, những mùa đông co ro trong căn nhà trình tối đèn dầu. Gian khó không làm ông nhỏ bé đi, mà lặng lẽ hun đúc trong ông một ý chí bền bỉ và tấm lòng hiền hậu của người con núi rừng.
Năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt, ông xung phong nhập ngũ. Ông rời miền biên giới Lạng Sơn, rời căn nhà trình tường đã che chở cả tuổi thơ nghèo khó của mình để lên đường vào chiến trường miền Nam. Ngày nhập ngũ, ông nghèo đến mức không có nổi một đôi dép để xỏ chân. Ông đứng trong hàng quân, đôi chân trần đặt trên nền đất lạnh. Ông ngoại tôi nắm chặt tay em trai, còn bà ngoại tôi lặng lẽ tiễn đưa, không khóc, chỉ có ánh mắt đau đáu dõi theo dáng người khuất dần sau con đường núi mờ sương.
Con đường hành quân vào Nam năm ấy dài và dữ dội. Ông cùng đồng đội băng rừng, vượt suối, chịu đói rét, bệnh tật và mưa bom bão đạn. Trong hàng ngũ quân đội, ông là người lính mang quân hàm hạ sĩ - một cấp bậc giản dị nhưng mang trên vai trách nhiệm to lớn của người lính cụ Hồ. Giữa những cánh rừng khói lửa, hẳn ông đã nhiều lần nhớ về miền biên giới Lạng Sơn, nhớ căn nhà trình tường đất dày, nhớ tiếng nói Tày mộc mạc, nhớ mẹ, nhớ anh chị và các em cùng những ánh mắt tiễn đưa năm nào.
Và rồi, năm 1969, khi tuổi đời còn rất trẻ, ông đã anh dũng hi sinh tại chiến trường miền Nam. Gia đình tôi chỉ nhận được giấy báo tử - vỏn vẹn vài dòng chữ ngắn ngủi báo tin dữ. Không ngày giờ cụ thể. Không địa danh. Không phần mộ. Không hài cốt. Ông nằm lại đâu đó giữa rừng sâu, giữa đất trời phương Nam, hòa thân mình vào đất mẹ Tổ quốc.
Nhiều năm sau chiến tranh, gia đình tôi vẫn mòn mỏi chờ đợi một tin tức về ông. Năm 2001, Nhà nước truy tặng ông Bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ký tặng, ghi nhận sự hi sinh của người lính hạ sĩ năm ấy. Tấm bằng ấy - một tờ giấy mỏng, nhưng chứa đựng cả một thời hoa lửa, cả máu xương và nước mắt. Tấm bằng được đón nhận trong niềm xúc động nghẹn ngào - vừa là niềm tự hào thiêng liêng, vừa là nỗi đau nhói khi ông chưa thể trở về. Tấm bằng ấy được giữ gìn, được đặt trang trọng trong nhà, nhắc nhở con cháu về một người lính ra đi không một đôi dép, nhưng mang theo cả tấm lòng son sắt với Tổ quốc.
Ông ngoại tôi đã qua đời, mang theo nỗi day dứt chưa một lần được đón em trai trở về với quê hương. Còn bà ngoại tôi, người tiễn ông rời căn nhà trình tường năm 1968 thì vẫn ở lại. Bà là người là người chờ đợi lâu nhất. Tóc bà bạc trắng theo năm tháng. Mỗi lần nhắc đến tên ông, bà lại lặng đi rất lâu. Điều bà mong mỏi suốt cả cuộc đời chỉ là một tin tức, một manh mối về nơi ông - người em chồng bà đã ngã xuống, để được đón ông trở về quê hương, về với bản làng người Tày, về nằm bên anh em ruột thịt. Để ông không còn cô đơn vô danh nơi đất lạ, để bà ngoại tôi, trước khi về với tổ tiên, có thể thắp cho ông một nén hương đúng nơi ông yên nghỉ.
Ông ra đi từ miền biên giới Lạng Sơn năm 1968, hi sinh năm 1969, mang quân hàm hạ sĩ, không một đôi dép, mang theo cả tuổi xuân để đất nước có ngày hòa bình. Còn bà ngoại tôi mang theo cả một đời chờ đợi và hi vọng. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong căn nhà trình tường nơi biên giới, ký ức về ông vẫn còn nguyên vẹn -như một vết thương không rỉ máu, nhưng chưa bao giờ lành.
Nếu một ngày nào đó, gia đình tôi nhận được giấy báo phần mộ, đó không chỉ là niềm an ủi cho người đã khuất, mà còn là sự thanh thản cho những người ở lại. Là lúc bà ngoại tôi có thể yên lòng nhắm mắt, là lúc ông - một người lính dân tộc Tày ra đi không một đôi dép được trở về trong vòng tay của quê hương, của căn nhà trình tường nơi biên giới Lạng Sơn đã chờ ông suốt mấy chục năm dài.
Và cho đến khi điều ấy thành hiện thực, gia đình tôi vẫn tin, vẫn đợi, vẫn giữ trọn niềm hi vọng. Bởi có những sự hi sinh, dù thời gian có trôi bao lâu, Tổ quốc không quên, gia đình không quên và lòng người ở lại cũng không thể nào quên.



