Bài viết

THỜI HOA LỬA BÊN DÒNG SÔNG TIỀN

THỜI HOA LỬA BÊN DÒNG SÔNG TIỀN

Đồng Tháp05/07/2026THỜI HOA LỬA BÊN DÒNG SÔNG TIỀN (chi đoàn Trường mầm non Hướng Dương.)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

THỜI HOA LỬA BÊN DÒNG SÔNG TIỀN

Tái hiện theo lời kể của một cựu du kích vùng Tân Khánh Trung, huyện Lấp

Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Những ngày cuối đời, mỗi khi chiều xuống bên bờ sông Tiền, ông Bảy

Thành lại ngồi trước hiên nhà, nhìn những cánh đồng xanh ngút mắt của quê hương

Tân Khánh Trung. Tiếng trẻ con nô đùa vang lên từ con đường bê tông mới làm

khiến ông nhớ về những năm tháng chiến tranh ác liệt cách đây hơn nửa thế kỷ.

Ông thường nói:

“Bây giờ nhìn quê mình yên bình vậy chớ hồi đó bom đạn dữ lắm. Có những

đêm cả làng thức trắng, nghe tiếng máy bay gầm trên đầu mà không ai biết sáng

mai còn gặp lại nhau hay không.”

Năm 1968, ông Bảy vừa tròn mười chín tuổi. Quê hương Đồng Tháp lúc ấy

chìm trong khói lửa chiến tranh. Những cánh đồng lúa xanh mướt nhiều lần bị bom

cày xới thành những hố sâu. Con đường đất dẫn ra chợ quê thường xuyên bị phong

tỏa.

Gia đình ông sống bằng nghề làm ruộng. Cha ông là một nông dân hiền lành,

quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Mẹ ông tảo tần sớm hôm nuôi năm người con

khôn lớn.

Một buổi chiều, sau trận càn của địch vào xóm, căn chòi lá của người chú họ

bị cháy rụi. Nhìn cảnh bà con chạy tán loạn, người bị thương nằm bên bờ mương,

lòng ông Bảy đau như cắt.

Đêm hôm ấy, dưới ánh đèn dầu leo lét, ông nói với cha:

– Con muốn tham gia du kích.

Người cha im lặng rất lâu.

– Con suy nghĩ kỹ chưa?

– Dạ rồi.

Người cha gật đầu.

– Nếu đã chọn thì phải sống cho xứng đáng với quê hương.

Chỉ vài ngày sau, ông chính thức trở thành một đội viên du kích địa phương.

Những ngày đầu tham gia cách mạng, công việc của ông không phải cầm

súng chiến đấu mà là làm giao liên. Ông phải chèo xuồng len lỏi qua các con rạch,

mang thư từ và tài liệu giữa các cơ sở.

Có những đêm nước lớn, gió mạnh, chiếc xuồng nhỏ chòng chành giữa dòng.

Mỗi lần nghe tiếng xuồng máy tuần tra từ xa vọng lại, ông phải nhanh chóng đưa

xuồng vào đám lục bình rồi nằm im hàng giờ đồng hồ.

Ông kể rằng điều đáng sợ nhất không phải là đói hay mệt, mà là cảm giác hồi

hộp khi mang trên người những tài liệu quan trọng.

“Một tờ giấy thôi nhưng có khi liên quan đến tính mạng của nhiều người.”

Mùa nước nổi năm ấy, một sự việc xảy ra khiến ông nhớ mãi.

Một đêm mưa lớn, đơn vị nhận được tin cần chuyển gấp công văn sang địa

bàn bên kia sông. Người được phân công ban đầu bị sốt rét nặng nên ông Bảy xung

phong đi thay.

Mưa đổ trắng trời.

Sông Tiền cuộn sóng.

Chiếc xuồng nhỏ lao đi trong bóng tối.

Đến giữa dòng, bất ngờ ánh đèn pha từ một xuồng tuần tra quét ngang mặt

nước.

Ông lập tức cúi rạp xuống khoang xuồng.

Tiếng động cơ ngày càng gần.

Tim ông đập mạnh đến mức tưởng như người khác có thể nghe thấy.

Trong khoảnh khắc ấy, ông nghĩ đến cha mẹ, đến mái nhà tranh nơi quê

nghèo và tự nhủ dù thế nào cũng phải bảo vệ bằng được tài liệu.

May mắn thay, một cơn mưa lớn bất ngờ ập xuống làm tầm nhìn bị hạn chế.

Chiếc xuồng tuần tra chuyển hướng.

Ông thoát hiểm trong gang tấc.

Khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, người ướt lạnh run cầm cập, ông mới biết

công văn ấy giúp đơn vị kịp thời tránh được một cuộc càn quét lớn.

Những năm sau đó, chiến tranh ngày càng ác liệt.

Nhiều người bạn cùng trang lứa của ông lần lượt ra đi.

Có người hy sinh khi mới mười tám tuổi.

Có người mãi mãi nằm lại giữa cánh đồng quê hương.

Trong ký ức của ông, hình ảnh người đồng đội tên Tư Lành là điều không thể

quên.

Tư Lành nhỏ hơn ông một tuổi.

Cậu hay cười, giọng nói lúc nào cũng vui vẻ.

Ước mơ của Tư rất giản dị:

– Hết chiến tranh tao sẽ cưới vợ, làm ruộng như ba má.

Nhưng ước mơ ấy không bao giờ thành hiện thực.

Trong một trận đánh bảo vệ cơ sở cách mạng, Tư Lành đã anh dũng hy sinh.

Ngày chôn cất bạn, cả đơn vị đứng lặng giữa cơn mưa.

Không ai nói với ai câu nào.

Ông Bảy chỉ nhớ đôi bàn tay mình siết chặt đến bật máu.

Chiến tranh đã cướp đi tuổi trẻ của biết bao người con quê hương.

Năm 1975, ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông đang làm nhiệm vụ tại

địa phương.

Khi nghe tin chiến thắng, nhiều người ôm nhau khóc.

Có người cười.

Có người ngồi lặng.

Riêng ông nhìn lên bầu trời trong xanh và nghĩ đến những đồng đội không

còn được chứng kiến ngày hòa bình.

Sau chiến tranh, ông trở về với ruộng đồng.

Từ một thanh niên du kích, ông trở thành người nông dân bình dị.

Ông lập gia đình, sinh con, dựng nhà và cùng bà con xây dựng quê hương.

Những con đường đất ngày xưa giờ đã được bê tông hóa.

Những cánh đồng hoang tàn năm nào nay xanh mướt lúa.

Trẻ em được đến trường trong tiếng trống khai giảng rộn rã.

Mỗi lần nhìn thấy điều đó, ông lại mỉm cười.

Ông bảo:

“Những người đã ngã xuống chắc cũng sẽ vui lắm.”

Một chiều cuối năm, khi những tia nắng vàng phủ lên mặt sông Tiền, đứa

cháu nội hỏi:

– Ông ơi, chiến tranh có đáng sợ không?

Ông nhìn xa xăm rồi đáp:

– Đáng sợ lắm con à. Vì vậy mình càng phải quý trọng hòa bình.

Đứa bé lại hỏi:

– Vậy điều ông mong nhất là gì?

Ông vuốt mái tóc cháu rồi nói:

– Ông chỉ mong thế hệ sau được học hành đầy đủ, sống tử tế và nhớ rằng hòa

bình hôm nay được đánh đổi bằng rất nhiều hy sinh.

Gió từ sông Tiền thổi vào mát rượi.

Tiếng trẻ con vang lên trong xóm nhỏ.

Ông Bảy lặng lẽ nhìn quê hương đổi mới từng ngày.

Những năm tháng hoa lửa đã lùi xa.

Nhưng ký ức về một thời tuổi trẻ chiến đấu vì quê hương vẫn còn mãi trong

trái tim người cựu du kích già bên dòng sông Tiền của đất Đồng Tháp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
THỜI HOA LỬA BÊN DÒNG SÔNG TIỀN | Câu chuyện thời hoa lửa