Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CHUYẾN ĐỐC NAM ĐỊNH CUỐI CÙNG VÀ TRẬN PHỤC KÍCH BÊN BỜ SÔNG ĐÁY

Mùa đông năm 1951, vùng tản cư Liên khu 3 mưa phùn gió bấc buốt thấu xương. Giữa những căn nhà tre vách đất ẩn sau lũy tre xanh, người ta thấy một người đàn ông vóc dáng mảnh khảnh, cặp kính cận dày cộp, đôi mắt trũng sâu nhưng ngời sáng nụ cười hiền hậu. Đó là Trần Hữu Tri – nhà văn Nam Cao. Ở tuổi 36, ông không còn là gã trí thức tiểu tư sản chật vật với bi kịch "sống mòn" trước Cách mạng mạng tháng Tám, mà đã là một chiến sĩ, một đảng viên, một thư ký mẫn cán của Hội Văn nghệ Việt Nam.

Ninh Bình24/08/2026Đoàn xã Tánh Linh (Tánh Linh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHUYẾN ĐỐC NAM ĐỊNH CUỐI CÙNG VÀ TRẬN PHỤC KÍCH BÊN BỜ SÔNG ĐÁY

Lệnh lên đường và hành trang của người chiến sĩ

Tháng 11 năm đó, chiến dịch Quang Trung nổ ra, chiến sự ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ diễn biến vô cùng ác liệt. Nhận nhiệm vụ từ cơ quan, Nam Cao cùng đoàn công tác gồm các cán bộ thuế nông nghiệp và giao thông tiến hành một chuyến đi biệt động: Thuế nhập vùng địch hậu liên khu 3 và tỉnh Nam Định để thu thuế, kết hợp tuyên truyền, nắm tình hình phong trào kháng chiến của đồng bào.

Hành trang của nhà văn chiến sĩ lúc bấy giờ thật giản dị:

  • Một chiếc ba lô sờn rách đựng vài bộ quần áo cốt để cải trang.

  • Một xấp giấy bản ngả màu vàng, vài cây bút mực mực đen.

  • Một cuốn sổ tay dày đặc những ghi chép về cuộc sống vùng tự do.

  • Một khẩu súng lục cũ kỹ dắt bên hông để phòng thân.

  • Trước ngày đi, đồng đội ái ngại nhìn thân hình gầy gò của ông, khuyên ông nên ở lại căn cứ chiến khu viết bài. Nam Cao chỉ cười, cái cười đôn hậu quen thuộc của tác giả Lão Hạc: "Sống đã rồi hãy viết. Không vào hang cọp, không cùng ăn, cùng trốn, cùng chịu họng súng với đồng bào, thì trang văn viết ra chỉ là thứ văn chương chết".

    Cuộc lội bùn băng qua đồn bốt

    Đoàn công tác xuất phát từ vùng tự do Ninh Bình, men theo những con đường mòn, cắt qua các bãi sậy, đầm lầy để tiếp cận sông Đáy. Ban ngày, họ phải ẩn nấp dưới những hầm bí mật chật chội, thiếu oxy, chân ngập trong nước bùn hôi hám. Ban đêm, khi ánh đèn pha từ các đồn bốt Pháp quét qua mặt sông, đoàn lại lặng lẽ chèo mảng, vượt qua các tuyến phong tỏa dày đặc của giặc.

    Dù gian khổ và hiểm nguy cận kề, Nam Cao vẫn tranh thủ mọi khắc khắc nghỉ ngơi. Dưới ánh sáng le lói của chiếc đèn dầu tự chế bằng vỏ đạn, ông cặm cụi ghi chép. Ông ghi lại nụ cười của cô du kích giao liên, ánh mắt kiên cường của bà mẹ tiễn con đi tòng quân. Ông nung nấu ý định viết một cuốn tiểu thuyết vĩ đại về cuộc chuyển mình của những người nông dân quê hương ông, những "Chí Phèo", "Lão Hạc" ngày nào giờ đã đứng lên cầm súng bảo vệ xóm làng.

    Ngày 30 tháng 11 đen tối bên bờ sông Đáy

    Ngày 30 tháng 11 năm 1951, đoàn công tác di chuyển đến địa phận làng Vũ Đại (thuộc xã Gia Xuân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) – một vùng giáp ranh, nơi địch thường xuyên càn quét. Trời đổ mưa tầm tã, đường trơn trượt như đổ mỡ.

    Bất ngờ, một tiếng súng nổ xé toạc không gian tĩnh mịch. Tiếp theo đó là những loạt đạn liên thanh chát chúa. Một toán quân Pháp phối hợp với lính ngụy đi tuần tra đã phát hiện ra dấu vết của đoàn công tác. Chúng nhanh chóng khép vòng vây, xả súng điên cuồng vào bụi rậm nơi đoàn đang ẩn nấp.

    Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Nam Cao không hề nao núng. Với tư cách là một người đồng chí, một người anh, ông cùng các chiến sĩ cảnh vệ nổ súng đánh trả để thu hút hỏa lực của địch, tạo điều kiện cho các cán bộ giao thông tiêu hủy tài liệu bí mật và rút lui. Khẩu súng lục trên tay nhà văn vang lên đanh thép giữa làn đạn của kẻ thù.

    Nhưng hỏa lực của địch quá mạnh. Nam Cao bị trúng đạn. Ông ngã xuống mảnh đất Ninh Bình, máu của người nghệ sĩ tài hoa hòa vào dòng nước mưa, thấm đượm vào lòng đất mẹ. Giặc Pháp ập đến, chúng tàn nhẫn xả thêm những loạt đạn cuối cùng và vùi lấp thi thể ông cùng các đồng đội trong một ngôi mộ chung sơ sài bên vệ đường.

    Sự bất tử của một nhân cách

    Nhà văn Nam Cao đã ngã xuống khi những dự định văn chương lớn lao nhất của cuộc đời còn dang dở. Trang sổ tay thấm máu của ông đã mãi mãi gửi lại đất trời thời hoa lửa. Ông hy sinh khi mới 36 tuổi xuân – độ tuổi chín muất nhất của tài năng và lý tưởng.

    Phải đến năm 1996, sau nhiều thập kỷ tìm kiếm ròng rã, hài cốt của ông mới được đồng đội và gia đình tìm thấy và đưa về an táng tại quê nhà Lý Nhân, Hà Nam. Cùng năm đó, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I – phần thưởng cao quý nhất dành cho những cống hiến vĩ đại của ông.

    Nam Cao đã sống một cuộc đời như chính quan điểm nghệ thuật của mình: dùng ngòi bút để phụng sự nhân dân, và dùng chính máu xương của mình để bảo vệ mảnh đất mà ông hằng yêu dấu. Ông ngã xuống, nhưng những Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa và tinh thần thép của người chiến sĩ cách mạng Trần Hữu Tri sẽ còn sống mãi với thời gian.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn