THỜI HOA LỬA CÓ Gì, LÀ GÌ?
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có những khúc quanh oằn mình trong mưa bom bão đạn nhưng lại được dệt nên bởi thứ ánh sáng lộng lẫy vô ngần. Đó là khi cả một đất nước cùng chung một chiến hào, hướng về hai chữ độc lập thiêng liêng. Khắc ghi vào tâm khảm muôn đời từ những năm tháng sục sôi ấy là danh xưng đầy kiêu hãnh và xúc động: "Thời hoa lửa". Khái niệm này mang một ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc, kết tinh từ sự đồng hiện giữa hai sắc thái tưởng chừng đối lập. "Hoa" là nét vẽ mềm mại, đại diện cho tuổi thanh xuân mười tám đôi mươi căng tràn nhựa sống, cho những tình yêu đôi lứa trong sáng và hoài bão khát vọng tựa bầu trời. "Lửa" lại là vết chém tàn khốc của chiến tranh với bom rơi đạn nổ, song đồng thời cũng chính là ngọn lửa yêu nước nồng nàn, lý tưởng cách mạng sục sôi cháy bỏng trong lồng ngực mỗi người con Việt Nam. "Thời hoa lửa" không phải là một hoài niệm mơ hồ trên những trang giấy cũ, mà là một khúc tráng ca được dệt bằng xương máu, nước mắt và những câu chuyện có thật của một thế hệ anh hùng.
Bi tráng và xúc động nhất trong khúc tráng ca ấy chính là hiện tượng hàng vạn sinh viên, tri thức trẻ đồng loạt gác lại tương lai tươi sáng để ra trận theo lệnh tổng động viên của Tổ quốc. Cuộc di tản vĩ đại từ giảng đường lộng lẫy ra đến chiến trường khốc liệt đã tạo nên một thế hệ lính sinh viên đầy kiêu hãnh, biến những trang sách còn vương mùi mực thành những trang sử thấm đẫm máu xương. Nổi bật nhất trong thế hệ ấy là câu chuyện của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc , người sinh viên Khoa Toán – Lý trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Anh nhập ngũ khi vừa đạt giải nhất học sinh giỏi văn toàn miền Bắc, mang theo hành trang vào trận là cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi lừng lẫy. Giữa khói bom Quảng Trị gầm rú tàn bạo, tâm hồn người trai Thủ đô ấy vẫn ngân lên những vần thơ đầy lạc quan và bay bổng: "Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn / Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa...". Nguyễn Văn Thạc đã nằm lại vĩnh viễn bên dòng sông Thạch Hãn khi chưa tròn hai mươi tuổi đời, gửi lại trần thế một lời ước hẹn hòa bình dạt dào niềm tin. Sự ngã xuống của anh và hàng ngàn lính sinh viên khác đã biến thanh xuân của họ thành những đóa hoa bất tử nở rực rỡ giữa vùng đất lửa.
Sự tàn khốc thấu xương của cuộc chiến và ý chí thép của người lính sinh viên được khắc họa rõ nét qua ký ức của Cựu chiến binh . Nguyễn Thế Lâm, nguyên sinh viên K14 Khoa Toán – Lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhập ngũ ngày 6/9/1971, ông Lâm trực tiếp lao vào chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972. Ông nghẹn ngào kể về những đêm dài bơi qua sông Thạch Hãn dưới làn hỏa lực điên cuồng của giặc, khi nước sông nhuộm đỏ ngầu máu của đồng đội. Có những khoảnh khắc lằn ranh giữa sự sống và cái chết chỉ tính bằng tích tắc. Một lần, dứt đợt oanh tạc hãi hùng của địch, bước ra khỏi hầm ẩn nấp, ông bàng hoàng nhận ra ngay đúng vị trí mình vừa đứng ban nãy đã bị mảnh bom xé rách, cắm lỗ chỗ. Sự may mắn thoát chết ấy là một vết sẹo tâm linh đeo đẳng suốt đời. Sau này, chính ông Lâm và những người lính sinh viên năm xưa đã cùng nhau khởi xướng, quyên góp xây dựng nên “Đài chứng tích sinh viên - chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị”. Công trình ấy đứng sừng sững giữa đất trời như một nén tâm nhang, một biểu tượng bất tử khóc thương và vinh danh những người bạn học đã vĩnh viễn gửi lại tuổi đôi mươi nơi lòng đất mẹ.
Song hành cùng người lính trên chiến trường là những đóa hoa can trường nở giữa "ngã ba đồng tử" của lực lượng Thanh niên xung phong ". Không một người Việt Nam nào có thể ngăn dòng nước mắt khi nhắc đến mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc do chị Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng. Nhiệm vụ của các chị là làm "cọc tiêu sống", đứng hiên ngang giữa tọa độ bom rơi để định hướng cho những đoàn xe xé rách màn đêm ra tiền tuyến. Trận bom định mệnh ngày 24/7/1968 đã chôn vùi cả mười đóa hoa thanh xuân dưới lòng đất sâu. Khi đồng đội điên cuồng đào đất tìm các chị, có người tay vẫn nắm chặt chiếc cuốc, mái tóc còn vương mùi khói súng nồng nặc. Nỗi đau thương ấy xé toạc lòng đất, nhưng cũng từ lòng đất, ngọn lửa kiên cường của các chị đã hóa thân thành bất tử.
Và ở phía sau hậu phương, "thời hoa lửa" được dệt nên bởi những giọt nước mắt lặng thầm chảy ngược vào trong lòng của các Mẹ Việt Nam Anh hùng . Biểu tượng vĩ đại nhất cho nỗi đau và đức hy sinh vô bờ bến ấy chính là Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam. Nỗi đau của Mẹ nhân lên mười hai lần khi lần lượt 9 người con trai, 1 người con rể và 2 cháu ngoại hăng hái ra trận rồi mãi mãi nhận về những tấm giấy báo tử lạnh lùng. Hình ảnh người mẹ già gầy guộc ngồi lặng câm, thẫn thờ trước mâm cơm bày sẵn 9 bộ bát đũa để trống đã trở thành một chứng tích bằng xương bằng thịt, một nỗi ám ảnh khôn nguôi về cái giá quá đắt của hai chữ "Hòa bình".
Chiến tranh đã lùi xa, những nhân chứng của "thời hoa lửa" giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm, mái đầu bạc trắng như cước và mang trên mình những vết thương đau nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời. Thế nhưng, bản chất anh hùng và ngọn lửa nhiệt huyết trong họ chưa bao giờ lụi tàn. Họ trở về cuộc sống đời thường, lặng lẽ cống hiến tri thức, tiếp tục là những "pho từ điển sống" truyền lửa cho thế hệ mai sau. Sức sống của ngọn lửa ấy vẫn âm vang vẹn nguyên giá trị trong dòng máu của tuổi trẻ hôm nay. Hình ảnh những nhóm sinh viên nghẹn ngào ôm lấy các bác cựu chiến binh già mặc quân phục trang nghiêm, nhường vị trí đẹp nhất để các bác xem diễu binh với lời khẳng định thiết tha: "Chúng con không cần xem giấy tờ..." là một minh chứng vô cùng xúc động cho sự kết nối thiêng liêng giữa các thế hệ.
Tóm lại, "thời hoa lửa" là chương sử bi tráng, rực rỡ và linh thiêng nhất trong cuốn đại tộc phả của dân tộc Việt Nam. Những câu chuyện bằng xương bằng thịt về người lính sinh viên gác bút nghiên ra trận, những cô gái thanh niên xung phong ngã xuống tuổi đôi mươi, hay giọt nước mắt lặng lẽ của người Mẹ Việt Nam Anh hùng sẽ mãi là những nhân chứng sống của lịch sử. Họ chính là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay phải sống có trách nhiệm, nỗ lực học tập, lao động để bảo vệ và dựng xây đất nước, xứng đáng với từng giọt máu và giọt nước mắt mà cha ông đã đổ xuống cho nền tự do của Tổ quốc.



