Cựu chiến binh

THỜI HOA LỬA CỦA BÁC NGUYỄN TIẾN DŨNG

Nhập ngũ khi vừa tròn mười chín tuổi, bác Nguyễn Tiến Dũng mang theo hành trang là ý chí của một người lính trẻ bước vào những năm tháng gian khó nhất nơi chiến trường biên giới phía Bắc. Trong vai trò chiến sĩ bộ binh, bác trực tiếp tham gia chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc tại mặt trận Hà Giang. Những ký ức về đồng đội, về mưa rừng, đá núi và tiếng pháo vọng đêm vẫn in sâu trong tâm trí bác cho đến tận hôm nay. Đó là quãng đời hoa lửa – gian khổ nhưng tự hào, khốc liệt m

Thanh Hóa22/12/2025Lê Thị Lan (chi Đoàn trường Mầm non Hoằng Đạo)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bác Nguyễn Tiến Dũng sinh năm 1962, lớn lên ở thôn Hạ Vũ 1 – một vùng quê yên bình với ruộng đồng, bờ tre và những con đường đất đỏ. Tháng 2 năm 1981, khi đất nước còn nhiều gian khó, bác lên đường nhập ngũ, khoác lên mình màu áo lính trong niềm tự hào xen lẫn nỗi lo lắng của gia đình.

Sau thời gian huấn luyện tân binh, bác được biên chế về Trung đoàn Bộ binh 141, Sư đoàn 312, một đơn vị chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Với chuyên môn chiến sĩ bộ binh trực tiếp chiến đấu, bác cùng đồng đội hành quân lên chiến trường Hà Giang, tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc trong những năm đầu thập niên 1980.

Nhắc lại quãng thời gian ấy, bác trầm ngâm rồi kể chậm rãi:
“Hồi đó, tụi tôi toàn thanh niên mười chín, đôi mươi. Súng còn nặng hơn người, balô lúc nào cũng ướt sũng vì mưa rừng. Nhưng chẳng ai kêu ca, vì ai cũng hiểu mình đang đứng ở đâu.”

Chiến trường Hà Giang khắc nghiệt hơn những gì người lính trẻ từng hình dung. Núi đá tai mèo dựng đứng, sương mù dày đặc, ngày nắng như đổ lửa, đêm rét cắt da. Bác và đồng đội bám trụ trong các hầm đá, thay nhau gác, tuần tra, sẵn sàng chiến đấu. Có những đêm pháo sáng xé toạc bầu trời, tiếng nổ vọng từ sườn núi này sang sườn núi khác, khiến đất đá rung chuyển.

Kỷ niệm khiến bác nhớ nhất là một lần chốt bị pháo kích dữ dội.
“Lúc đó tôi với thằng Hòa – quê Thái Bình – chung một hầm. Pháo nổ ngay miệng hầm, đất đá vùi kín lối ra. Hai anh em chỉ biết nắm chặt tay nhau, miệng gọi tên đồng đội. Khi đào được lên, Hòa bị thương nặng, còn tôi thì may mắn hơn.”
Hòa sau đó được cáng về tuyến sau, còn bác tiếp tục bám chốt cho đến khi đơn vị được lệnh luân phiên.

Những năm tháng ấy, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, tình đồng đội trở thành điểm tựa lớn nhất. Họ chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm vắt, nhường nhau manh áo khô hiếm hoi giữa mưa rừng biên giới.
“Không có đồng đội thì không ai sống nổi ở đó,” bác nói, giọng chùng xuống.

Hoàn thành nhiệm vụ, năm 1984 bác xuất ngũ với cấp bậc Hạ sĩ, mang theo trên ngực Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba – phần thưởng cho những năm tháng bền bỉ nơi tuyến đầu. Năm tháng quân ngũ tuy ngắn nhưng đủ để hun đúc trong bác bản lĩnh, kỷ luật và lòng yêu nước bền chặt.

Giờ đây, trở về đời thường, bác Nguyễn Tiến Dũng vẫn giữ nếp sống giản dị của người lính năm xưa. Mỗi khi nhắc đến chiến trường Hà Giang, ánh mắt bác lại xa xăm.
“Chiến tranh qua rồi, nhưng ký ức thì ở lại. Đó là một phần máu thịt của đời tôi.”

Thời hoa lửa ấy – gian lao, mất mát nhưng đầy tự hào – đã làm nên một người lính Nguyễn Tiến Dũng kiên cường, lặng lẽ, như bao cựu chiến binh khác đã gửi trọn tuổi xuân mình cho Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn