THỜI HOA LỬA CỦA NGƯỜI LÍNH BINH TRẠM
Cựu chiến binh Phạm Đình Chử sinh năm 1956 tại thôn Dư Khánh, nhập ngũ năm 1974 khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Suốt mười năm quân ngũ, bác công tác tại đơn vị Binh trạm trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tham gia chiến trường miền Đông Nam Bộ. Với cương vị chiến sĩ bảo đảm chiến đấu, bác cùng đồng đội giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược giữa mưa bom bão đạn. Những năm tháng ấy đã trở thành dấu ấn sâu đậm, không thể phai mờ trong cuộc đời người lính.
Nhắc đến quãng đời quân ngũ, bác Phạm Đình Chử thường cười hiền, nhưng ánh mắt lại chùng xuống như đang trở về với rừng sâu, bom đạn và những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại. Bác chậm rãi nói:
“Ngày ấy, thanh niên trong làng cứ đến tuổi là lên đường. Đi bộ đội không phải để lập công, mà là để giữ nước.”
Năm 1974, vừa tròn mười tám tuổi, bác nhập ngũ và được biên chế vào Binh trạm vận tải chiến lược thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Khi đó, bác mang cấp bậc Hạ sĩ 2, giữ chức vụ chiến sĩ bảo đảm chiến trường, làm nhiệm vụ bảo vệ kho tàng, dẫn đường và phục vụ các đơn vị chiến đấu tại chiến trường miền Đông Nam Bộ, khu vực rừng núi Tây Ninh – Dầu Tiếng. Đây là địa bàn trọng yếu, nơi địch thường xuyên đánh phá nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ hậu phương.
Cuộc sống của người lính binh trạm gắn liền với gian khổ. Ăn cơm độn sắn, ngủ hầm chữ A, di chuyển ban đêm để tránh máy bay trinh sát. Bác kể lại một kỷ niệm mà đến nay vẫn nhớ như in:
“Có đêm đang gùi hàng thì pháo sáng thả xuống trắng cả cánh rừng. Anh em phải nằm im hàng giờ giữa bùn đất, muỗi đốt kín người mà không dám cử động.”
Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất đối với bác là lần đơn vị bị tập kích bất ngờ vào kho lương. Bom rơi sát hầm, đất đá sập xuống, một số đồng đội bị thương. Trong hoàn cảnh nguy cấp, bác cùng anh em khẩn trương cứu người, chuyển hàng ra vị trí an toàn. “Lúc đó chỉ nghĩ đơn giản, hàng còn là trận địa còn. Mình lùi là bộ đội phía trước thiếu đạn,” bác kể, giọng trầm lại.
Sau ngày đất nước thống nhất, bác tiếp tục ở lại quân đội, tham gia nhiệm vụ bảo vệ địa bàn, rà phá bom mìn và ổn định đời sống nhân dân tại các vùng mới giải phóng. Mười năm bền bỉ phục vụ trong quân ngũ, từ thời chiến đến thời bình, bác luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với những đóng góp đó, bác được tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Ba và Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang, ghi nhận sự kiên cường, tận tụy của người lính binh trạm.
Năm 1984, bác xuất ngũ trở về quê hương thôn Dư Khánh. Rời xa quân phục, nhưng ký ức về chiến tranh vẫn theo bác suốt cuộc đời. Như lời bác tâm sự:
“Chiến tranh qua rồi, nhưng đồng đội thì vẫn còn trong tim. Mình sống hôm nay là sống thay cả phần những người không kịp trở về.”
Câu chuyện của cựu chiến binh Phạm Đình Chử không chỉ là hồi ức cá nhân, mà còn là lát cắt chân thực về một thời hoa lửa, nơi những con người bình dị đã lặng thầm góp sức làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc.



