THỜI HOA LỬA CỦA NGƯỜI LÍNH GIÃ VĂN CƯ
THỜI HOA LỬA CỦA NGƯỜI LÍNH GIÃ VĂN CƯ
Sinh năm 1940 tại vùng quê thuần nông xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long, ông Giã Văn Cư lớn lên trong thời kỳ đất nước chìm trong đau thương của chiến tranh chống Mỹ. Những năm tháng tuổi thơ của ông gắn liền với tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom nổ chát chúa và những mái nhà bị tàn phá. Dù còn nhỏ, ông đã sớm cảm nhận nỗi đau mất mát của quê hương và ngọn lửa yêu nước âm ỉ trong tim từ ngày ấy.
Tháng 6 năm 1963, khi vừa tròn 23 tuổi, Giã Văn Cư quyết định lên đường nhập ngũ. Ngày rời quê, mẹ ông dúi vào tay con trai nắm cơm nếp còn nóng, nước mắt rưng rưng. Còn ông, chỉ biết siết chặt tay bà và hứa: “Con đi đánh giặc, khi nào đất nước yên bình con sẽ về.” Từ giây phút khoác lên mình màu áo xanh, ông Cư biết rằng cuộc đời mình đã bước sang một trang mới – trang viết bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng máu của người lính.
Những ngày đầu huấn luyện cực kỳ gian nan. Ông cùng đồng đội chạy dài trên những con dốc cháy nắng, tập bắn trong tiếng pháo kích của địch từ xa vọng lại. Đêm nào cũng hành quân tập luyện, có khi ngủ gục ngay trên ba lô vì mỏi mệt. Nhưng ông luôn nói rằng: “Chính những ngày đó tôi hiểu được thế nào là ý chí người lính và tình đồng đội.” Họ chia nhau từng lon gạo, từng ngụm nước, dìu nhau trong những buổi tập kiệt sức. Trong gian khổ, tình người lại càng ấm áp.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn khốc liệt, ông Giã Văn Cư được điều động vào chiến trường miền Nam. Những cánh rừng U Minh, Trường Sơn, những vùng căn cứ bị bom cày xới… đều in dấu chân ông. Nhiệm vụ của ông không chỉ là chiến đấu mà còn vận chuyển vũ khí, giữ liên lạc, bảo vệ đồng bào trong vùng địch càn quét.
Ông kể lại rằng có những ngày hành quân liên tục 2–3 đêm liền, chân phồng rộp đến chảy máu nhưng không ai than vãn. Họ chỉ biết động viên nhau: “Ráng nghe bây, vì đồng bào mình còn khổ lắm.” Có đêm, đơn vị ông phải lội suối giữa trời mưa tầm tã, nước dâng đến ngang ngực, súng đạn nâng cao khỏi mặt nước để không bị ướt. Cả đội chỉ có ánh đom đóm rừng dẫn đường. Trong bóng tối ấy, ông cảm nhận rõ hơn bao giờ hết ý nghĩa của hai chữ “đồng chí”.
Một trận đánh ác liệt năm 1967 là ký ức mà ông Cư không bao giờ quên. Khi đơn vị bị địch phát hiện và bao vây, đạn bắn tới tấp, một đồng đội của ông bị trúng đạn ngã xuống ngay trước hầm. Không cần suy nghĩ, ông lao ra giữa làn đạn, kéo đồng đội vào vị trí an toàn. Một mảnh đạn sượt qua vai, máu chảy ròng nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu đến khi đơn vị phá vòng vây thành công. Đó là khoảnh khắc ranh giới giữa sống và chết chỉ tính bằng gang tấc, nhưng cũng là lúc thể hiện rõ nhất tinh thần quả cảm của người lính cụ Hồ.
Năm 1976, sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, ông Giã Văn Cư xuất ngũ và trở về quê hương. Từ chiến sĩ trận mạc, ông trở lại với cuộc sống đời thường: cày cấy, trồng rau, dựng lại căn nhà cũ đã hư hại sau nhiều năm chiến tranh. Cuộc sống không giàu có ngay, nhưng bằng sức lao động miệt mài và phẩm chất kỷ luật của người lính, ông dần xây dựng được cuộc sống ổn định và nuôi dạy con cháu trưởng thành.
Đến tháng 12 năm 1991, ông được kết nạp vào Hội Cựu chiến binh và sinh hoạt tại Chi hội ấp Phú Thạnh 1. Trong hội, ông luôn là người nhiệt tình, gần gũi và gương mẫu. Những câu chuyện ông kể về chiến tranh không nhằm để kể công, mà để nhắc nhở thế hệ sau về giá trị của độc lập, tự do – thứ mà biết bao người đã phải ngã xuống để gìn giữ.
Giờ đây, bước qua tuổi 80, mái tóc ông đã bạc trắng, nhưng ánh mắt vẫn sáng, giọng nói vẫn rắn rỏi. Những ký ức về thời hoa lửa vẫn luôn sống động trong ông – như ngọn lửa cháy mãi trong lòng người lính cụ Hồ. Ông Giã Văn Cư, người con của đất Tân Xuân, đã dành cả tuổi trẻ cho Tổ quốc, và suốt cuộc đời vẫn sống trọn nghĩa tình, trọn lòng với quê hương.



