THỜI HOA LỬA CỦA NGƯỜI LÍNH THIẾT GIÁP
Giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người lính trẻ Lê Văn Thiết rời quê hương Hạ Vũ 1, khoác ba lô vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Gần hai mươi năm quân ngũ, ông gắn bó trọn đời mình với lực lượng Thiết Giáp, sống và chiến đấu giữa bom đạn, lửa khói. Với cương vị Chính trị phó đại đội, ông vừa cầm súng, vừa giữ vững tinh thần cho đồng đội trong những trận đánh ác liệt. Thời hoa lửa ấy đã hun đúc nên một con người bình dị mà kiên trung, để hôm nay ký ức vẫn c
Tôi gặp bác Lê Văn Thiết vào một buổi chiều yên ả nơi thôn Hạ Vũ 1. Người cựu chiến binh tóc đã bạc trắng, nhưng ánh mắt vẫn sáng và giọng nói thì trầm ấm, chậm rãi. Khi được hỏi về những năm tháng chiến tranh, bác lặng đi vài giây, rồi khẽ nói:
“Nhắc lại là nhớ lắm, mà cũng đau lắm cháu ạ…”
Bác sinh năm 1952, nhập ngũ năm 1970, khi vừa tròn mười tám tuổi. Ngày lên đường, quê nhà còn nghèo, mẹ tiễn con ra đầu ngõ chỉ kịp dúi vào tay nắm cơm nếp, dặn một câu duy nhất: “Còn sống thì về, còn nhiệm vụ thì cứ đi cho trọn.” Câu nói ấy theo bác suốt những năm tháng ở chiến trường miền Đông Nam Bộ – nơi được gọi là “chiến trường B”, một trong những mặt trận ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Sau thời gian huấn luyện, bác được biên chế về Bộ Tư lệnh Thiết Giáp, làm nhiệm vụ kỹ thuật và chiến đấu trên các xe tăng, xe thiết giáp tiến công. Với bản lĩnh, sự chững chạc và tinh thần trách nhiệm, bác được giao giữ chức vụ Chính trị phó đại đội, mang quân hàm Thượng úy. Công việc của bác không chỉ là chiến đấu, mà còn là giữ vững tinh thần cho anh em giữa làn ranh sống – chết.
Bác kể, kỷ niệm khiến bác nhớ nhất là một trận đánh lớn tại khu vực rừng cao su Long Khánh năm 1972. Hôm ấy, đại đội được lệnh yểm trợ bộ binh tiến công vào cứ điểm địch. Pháo bắn dồn dập, máy bay quần thảo suốt từ sáng đến chiều. Một chiếc xe thiết giáp trúng đạn, bốc cháy ngay trước mắt.
“Lúc đó khói đen mù mịt, anh em trong xe kêu cứu. Tôi với mấy đồng chí lao tới kéo từng người ra, không kịp nghĩ gì cả…” – bác dừng lại, giọng chùng xuống.
Ba chiến sĩ hy sinh ngay trong trận đó, đều là những người bác vừa động viên, nhắc nhở trước giờ xuất kích. Đêm ấy, giữa rừng, bác ngồi viết báo cáo, tay run lên vì mệt và vì đau. “Mình là chính trị viên, không được khóc trước anh em, nhưng quay đi rồi thì nước mắt cứ tự chảy.”
Suốt những năm tháng chiến tranh, bác Lê Văn Thiết đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, lập nhiều thành tích trong chiến đấu và công tác chính trị. Với quá trình phục vụ liên tục từ năm 1970 đến 1990, bác được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại đơn vị và được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, cùng nhiều bằng khen, giấy khen của Bộ Tư lệnh Thiết Giáp.
Năm 1990, bác xuất ngũ trở về quê hương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí người lính già, những năm tháng hoa lửa ấy chưa bao giờ phai nhạt. Trước khi chia tay, bác nói với tôi một câu giản dị mà sâu sắc:
“Chúng tôi may mắn được sống sót, nên sống thế nào cho xứng với những người đã nằm lại.”
Có lẽ, chính từ những con người như bác Lê Văn Thiết, lịch sử được viết nên không chỉ bằng chiến công, mà bằng cả máu, nước mắt và lòng trung thành son sắt với Tổ quốc.



