THỜI HOA LỬA CỦA NGƯỜI LÍNH TRẺ TỪ HẠ VŨ
Nguyễn Hữu Thanh nhập ngũ năm 1966, khi vừa tròn mười chín tuổi. Ngày rời thôn Hạ Vũ 1, hành trang của anh chỉ có một chiếc ba lô vải bạc màu, vài bộ quần áo nâu sồng và lời dặn của mẹ: “Đi cho trọn bổn phận con ạ, còn sống thì về.” Anh không nói nhiều, cũng không hứa hẹn. Người làng nhớ mãi hình ảnh chàng trai gầy, vai đeo súng, ngoái lại nhìn cánh đồng làng lần cuối trước khi bước lên xe quân đội.
Sau thời gian huấn luyện tân binh ở miền Bắc, Nguyễn Hữu Thanh được biên chế về Đơn vị 585 thuộc Binh trạm Trường Sơn, làm nhiệm vụ trinh sát – cảnh giới và bảo vệ tuyến vận tải chiến lược trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đó là những cánh rừng già rậm rạp, nơi bom Mỹ cày xới ngày đêm, nơi mỗi con suối, mỗi lối mòn đều có thể trở thành ranh giới sống – chết.
Cấp bậc của anh lúc ấy là hạ sĩ, giữ chức chiến sĩ trinh sát. Công việc tưởng như lặng lẽ nhưng lại là tuyến đầu của mọi nguy hiểm. Ban ngày bám rừng, ban đêm luồn sâu ra các trục đường vận chuyển, quan sát máy bay địch, phát hiện toán biệt kích, cảnh báo cho các đoàn xe ra vào an toàn. Có những đêm mưa rừng xối xả, anh và tổ trinh sát nằm ép mình dưới tán cây, người ướt sũng, bụng đói, tai căng ra nghe từng tiếng động lạ giữa rừng đêm.
Một lần, vào cuối năm 1969, trong lúc làm nhiệm vụ cảnh giới ở khu vực giáp ranh rừng cao su Bình Phước, đơn vị của anh bất ngờ bị máy bay địch phát hiện. Pháo sáng trút xuống như ban ngày, bom nổ dồn dập quanh trận địa. Trong khói lửa mù mịt, Nguyễn Hữu Thanh vẫn giữ vững vị trí quan sát, kịp thời báo động để đoàn xe phía sau dừng lại, tránh được một trận đánh lớn. Khi rút lui, anh bị sức ép bom làm choáng váng, tai ù đặc, nhưng vẫn cắn răng dìu một đồng đội bị thương nặng băng rừng suốt đêm để kịp về trạm quân y.
Những năm trên chiến trường B, anh chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống, có người vừa hôm trước còn chia nhau nắm cơm vắt, hôm sau đã nằm lại ven đường mòn Trường Sơn. Sự mất mát ấy không làm anh yếu đi, mà khiến người lính trẻ thêm gan góc, lặng lẽ gánh lấy phần việc khó nhất, nguy hiểm nhất.
Năm 1971, sau nhiều đợt công tác liên tục, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận tải và tham gia đánh trả các đợt càn quét của địch, Nguyễn Hữu Thanh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại chiến trường. Lễ kết nạp diễn ra giản dị dưới tán rừng, không cờ hoa, không nhạc nghi thức, chỉ có lời thề vang lên giữa bom đạn, ánh mắt đồng đội lặng lẽ mà tin cậy.
Năm 1972, anh xuất ngũ trở về quê hương. Chiến tranh chưa kết thúc, nhưng Nguyễn Hữu Thanh đã hoàn thành trọn vẹn quãng đời quân ngũ của mình. Trên ngực áo ngày trở về có Huân chương Chiến công hạng Ba, phần thưởng không chỉ cho một cá nhân, mà cho cả những tháng năm lặng thầm của một người lính trinh sát Trường Sơn.
Giờ đây, khi đã đi qua gần cả một đời người, ký ức chiến trường với bác Nguyễn Hữu Thanh không phải là những chiến công hào nhoáng, mà là mùi đất ẩm sau mưa rừng, là tiếng máy bay gầm rú trên đầu, là gương mặt những người đồng đội mãi mãi dừng lại ở tuổi đôi mươi. Thời hoa lửa ấy đã qua, nhưng trong lòng người lính năm xưa, nó vẫn cháy âm ỉ như một ngọn lửa không bao giờ tắt.



