Thời hoa lửa trên đỉnh Pú Nhung
Pú Nhung nằm trên những triền núi đá của huyện Tuần Giáo, khi ấy còn thuộc tỉnh Lai Châu, nay thuộc tỉnh Điện Biên. Đất ở đây cằn, đá tai mèo lởm chởm chen giữa nương ngô, sương giăng kín các bản làng người Mông từ sáng sớm đến gần trưa mới tan. Con đường từ Sơn La lên Tây Bắc phải vượt qua đèo Pha Đin, dốc Lũng Lô – những địa danh đã đi vào câu ca thời kháng chiến chống Pháp: "đèo Pha Đin chị gánh anh thồ, dốc Lũng Lô anh hò chị hát". Trong những năm đầu thập niên 1950, khi thực dân Pháp còn chiếm đóng nhiều vị trí ở vùng Tây Bắc, Pú Nhung là một trong những nơi phong trào cách mạng bén rễ sớm và bền bỉ nhất trong đồng bào Mông.

Ở đó có một người đàn ông tên Sùng Phái Sinh, được dân bản tin tưởng giao trọng trách Xã đội trưởng, đứng đầu đội du kích Pú Nhung. Cùng gắn bó với đội du kích ấy còn có một cậu bé tên Vừ A Dính, con trai của bà Sùng Thị Blây – người phụ nữ Mông đầu tiên ở Pú Nhung đến với cách mạng, sau này được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Năm 1952, quân Pháp liên tục điều động những cuộc càn quét lớn lên vùng Tuần Giáo, hòng bóp nghẹt các cơ sở kháng chiến trong lòng dân. Dưới sự chỉ huy của Sùng Phái Sinh, đội du kích Pú Nhung không có súng lớn, không có công sự kiên cố – thứ vũ khí lợi hại nhất của họ chính là núi rừng. Họ luồn rừng, cắt núi, thông thuộc từng khe suối, từng vách đá mà bước chân người lính viễn chinh không quen thuộc, nhân đó mà đánh úp, tiêu hao lực lượng địch.
Có thể hình dung, trong những đêm sương lạnh cắt da, người xã đội trưởng ấy cùng anh em du kích nằm phục giữa lùm cây, tai dỏng lên nghe từng tiếng động lạ, mắt dõi theo con đường mòn nơi quân Pháp có thể hành quân qua. Không có ai ghi lại lời ông nói với đồng đội trong những đêm ấy, và người viết hôm nay cũng không có quyền đặt vào miệng ông những câu nói không có thật. Chỉ biết rằng, kết quả của những đêm rình rập ấy là rất nhiều trận đánh, nhiều tổn thất giáng vào quân địch, được sử sách địa phương ghi nhận.
Cuối năm 1952, đội du kích Pú Nhung phối hợp cùng bộ đội chủ lực xiết chặt vòng vây quanh đồn Tuần Giáo. Đây là thời khắc mà tài năng của Sùng Phái Sinh được thể hiện rõ nhất – không chỉ là người cầm súng, ông còn là người biết dùng lời nói để cảm hóa lòng người. Bằng sự kiên trì thuyết phục, ông đã trực tiếp vận động được 25 binh lính trong đồn ra hàng, giúp quân ta giành thắng lợi mà không cần nổ một viên đạn nào.
Đó là một chiến công đặc biệt, bởi giữa thời chiến tranh khốc liệt, nơi đạn bom được xem là ngôn ngữ duy nhất giữa hai chiến tuyến, người xã đội trưởng người Mông ấy đã tìm ra một con đường khác: dùng chính tình người, dùng lẽ phải để cảm hóa đối phương. Hai mươi lăm sinh mạng – của cả hai phía – được giữ lại nhờ vào sự kiên nhẫn ấy.
Chiến tranh không chỉ là đánh và giữ đất, mà còn là nuôi sống con người giữa những năm đói kém, loạn lạc. Sùng Phái Sinh đã dày công thuyết phục, xây dựng cơ sở cách mạng ở 16 bản làng quanh Pú Nhung, đồng thời lập ra 50 tổ sản xuất lương thực – vừa để cứu đói cho dân bản, vừa để cung cấp hậu cần cho bộ đội.
Ai đã từng sống ở vùng núi đá Tuần Giáo mới hiểu, mỗi hạt ngô, mỗi bát gạo giữa những năm tháng ấy quý giá nhường nào. Việc gây dựng được mạng lưới sản xuất giữa vòng vây, giữa những đợt càn quét, là công việc đòi hỏi sự bền bỉ không kém gì việc cầm súng ra trận. Chính nhờ những tổ sản xuất ấy mà mạch sống của cách mạng ở Tây Bắc không bị đứt đoạn, dù bom đạn có dội xuống bao nhiêu lần.
Với những đóng góp ấy, Sùng Phái Sinh hai lần được Quân khu Tây Bắc tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Trong đội du kích do Sùng Phái Sinh chỉ huy, có một thiếu niên tên Vừ A Dính – khi ấy chỉ mới mười bốn, mười lăm tuổi, đã tham gia liên lạc, tiếp tế cho cách mạng. Mẹ của Dính, bà Sùng Thị Blây, là người phụ nữ Mông đầu tiên ở Pú Nhung theo cách mạng, cùng chồng là ông Vừ Chống Lầu ở bản Đề Chia tham gia kháng chiến chống Pháp.
Rồi một ngày, Vừ A Dính sa vào tay giặc. Dù bị tra tấn dã man, em vẫn một lòng kiên trung, không khai báo cơ sở cách mạng. Quân địch đã treo em lên một cành đào rồi xả súng bắn. Vừ A Dính hy sinh khi vừa tròn mười lăm tuổi.
Không ai biết chính xác, trong giờ phút nghe tin ấy, người xã đội trưởng Sùng Phái Sinh – người đã cùng cậu bé ấy luồn rừng, cắt núi bao đêm – đã đứng lặng bao lâu giữa bản làng sương phủ. Chỉ có thể hình dung, trong tim người chỉ huy ấy, nỗi đau mất một chiến sĩ nhỏ tuổi và nỗi đau của một người mẹ mất con hẳn đã hòa vào nhau, thành một phần máu thịt của cuộc kháng chiến nơi rẻo cao này. Đó là cái giá mà Pú Nhung, mà cả dân tộc, đã phải trả cho độc lập, tự do.
Chiến tranh đi qua, để lại trên đất Pú Nhung những vết tích không thể xóa nhòa: những nương ngô từng là nơi ẩn nấp, những vách đá từng nghe tiếng súng, những cành đào từng chứng kiến sự hy sinh của một thiếu niên mười lăm tuổi. Tháng 7 năm 1998, Chủ tịch nước đã phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" cho Đảng bộ, quân và dân xã Pú Nhung – trong đó có công lao bền bỉ của người xã đội trưởng Sùng Phái Sinh, người đã dành cả những năm tháng gian khổ nhất của đời mình để giữ cho ngọn lửa cách mạng không tắt giữa núi rừng Tây Bắc.
Ngày nay, Nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ xã Pú Nhung trở thành nơi để các thế hệ sau tìm về, thắp một nén nhang, đọc lại những dòng chữ khắc ghi tên những người đã ngã xuống hoặc đã sống trọn đời mình vì mảnh đất này.
Câu chuyện về Sùng Phái Sinh không phải là câu chuyện của một anh hùng đơn độc lập nên những chiến công vang dội bằng gươm súng. Đó là câu chuyện của một người biết dựa vào dân, biết dùng cả lòng người lẫn núi rừng làm vũ khí, biết rằng giữ được sự sống cho dân bản – bằng những tổ sản xuất lương thực giữa vòng vây đạn bom – cũng quan trọng không kém một trận thắng. Chiến công vận động 25 binh lính ra hàng mà không cần một viên đạn là minh chứng rằng, giữa những năm tháng khốc liệt nhất, vẫn có một con đường của lòng nhân, của sự thuyết phục, song hành cùng con đường của súng đạn.
Và trong câu chuyện ấy, hình ảnh cậu bé Vừ A Dính, hình ảnh bà mẹ Sùng Thị Blây, mãi mãi gắn liền với tên tuổi người xã đội trưởng – nhắc chúng ta rằng độc lập dân tộc không phải điều tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng máu xương của biết bao con người, có người mang tên tuổi được lưu danh, có người âm thầm lặng lẽ giữa núi rừng.
Đối với thế hệ hôm nay, câu chuyện về Pú Nhung, về Sùng Phái Sinh, về Vừ A Dính và bà mẹ Sùng Thị Blây, không chỉ là trang sử để đọc, mà là lời nhắc: đất nước này được dựng xây từ những bản làng nhỏ bé nhất, bởi những con người bình dị nhất, bằng lòng kiên trung không gì lay chuyển được. Giữ gìn hòa bình hôm nay, chính là cách tốt nhất để tri ân những "thời hoa lửa" đã qua.



