THỬ CHẠM VÀO ÂM THANH (2)
Những năm này, khi tôi lớn lên đã thấy phong trào đờn ca tài tử ở Cao Lãnh phát triển mạnh. Mấy anh thanh niên biết đờn, tụ tập nhau thành nhóm. Tôi nhớ cũng khoảng thời gian những thập niên 30, 40, bộ môn nghệ thuật cải lương, như một món ăn tinh thần không thể thiếu, đang đi sâu vào đời sống xã hội. Bà con từ thành thị đến nông thôn ai nấy đều ưa thích cải lương. Thường vào dịp Tết, mùa gió chướng về, thời tiết se se lạnh, gánh hát hay về quê diễn tuồng. Có thể lúc đó chuyện ruộng nương tương đối rảnh rỗi hơn những mùa khác trong năm. Ở Cao Lãnh, tôi nhớ lâu lâu có gánh hát nào về hát mấy tuồng tích dù mới hay cũ, bà con đều mê. Gánh hát về làng, không có rạp, thường diễn ở nhà lồng chợ. Họ dựng sân khấu rồi bọc đệm, bọc vải xung quanh mấy cây cột nhà lồng để làm rạp; trước cửa dựng thêm mấy tấm pa-nô giới thiệu tuồng hát và để một cái bàn bán vé. Khán giả ở Cao Lãnh lúc bấy giờ cũng nhiều loại: mấy bà có tiền ngồi ghế hạng nhứt thích chưng diện, thích đeo hột xoàn; mấy cô gái mặc đồ đẹp, tóc kẹp gọn gàng dễ e thẹn, còn mấy anh con trai cũng bảnh bao, tóc chải bảy ba nhưng rất đứng đắn, đàng hoàng; chỉ có bọn trẻ lóc chóc, đứa nào có tiền thì mua vé coi hạng cá kèo, không có tiền phải đợi gánh hát thả giàn mới vào coi được. Nhưng hơi sức đâu mà chờ đến lúc đó, chỉ cần đợi mấy người canh cửa lơ đễnh một chút, lập tức mấy ông nhỏ con nít vạch đệm chui vào “coi hát cọp”. Trong rạp, ở khoảng giữa những hàng ghế khán giả, người ta treo đèn manchon trên cao, tỏa sáng cả rạp. Đêm nào, tôi cũng theo mấy ông thầy đờn ngồi ở cánh gà. Đợi vẫn hát, anh hai, anh ba, anh bảy tôi và một số bạn bè thân thiết mời mấy nhạc sĩ, nhạc công kéo về nhà ăn cháo gà, giao lưu đờn ca tài tử đến gần sáng. Tôi bắt đầu được làm quen với nhạc sĩ Sáu Tửng, tên thật Huỳnh Văn Sâm (thân sinh tay trống Huỳnh Anh và nữ danh ca đờn ca tài tử Bạch Huệ) cũng từ những gánh hát như thế này.
Tôi nhớ mấy lần chúng tôi còn tổ chức đờn ca tài tử trên chiếc ghe "du hồ" của ba tôi, đâu ở bến sông gần nhà. Mây anh mua tôm càng xanh sống chỗ đóng đáy rất rẻ. Một anh xung phong đốt than trên cà-ràng rồi kiếm mấy cái quạt mo quạt phần phật. Chẳng bao lâu, mùi tôm nướng từ cà-ràng lan tỏa, thơm lừng... Tụi tôi tụ tập chơi đờn thật hào hứng, Ngồi đờn, hát với nhau đến lúc trăng lên cao rồi, mà anh em chẳng ai chịu buông đờn. Hồi đó, tôi chưa biết nhận định âm thanh tiếng đờn trong khung cảnh ở phòng khách hay ngoài trời khác nhau như thế nào. Sau này, tôi nghiệm ra rằng âm thanh tiếng đờn trong phòng khách khá ấm cúng (không gian thính phòng). Ở đó, dần dà, tôi nhận ra tiếng đòn của mấy thầy đờn khi nào là đối đáp, khi nào là nhường nhịn, từ tốn và cũng có khi đuổi bắt nhau thật sôi nổi.
Bấy giờ, nghe tiếng đờn ban đêm trên sông vào những lúc trăng mờ, nước thủy triều xuống như thế này, trong không gian bao la, tôi cảm thấy dường như nó mang một âm sắc quyến rũ, thật lạ lùng cho người nghe! Nghe đờn trên sông buổi tối, người ta dễ buồn, tâm cảm dễ bồi hồi. Nó giống như tâm trạng buồn khi nghe những tiếng chuông chùa. Nói điều này, tôi lại nhớ thuở nhỏ, thỉnh thoảng ở bên này sông, tôi nghe văng vẳng tiếng chuông chùa Linh Sơn ở xóm Hòa An bên kia sông vọng lại. Tiếng chuông vào ban đêm dễ gây buồn như thế. Sau này dù lớn khôn hơn một chút, tôi vẫn cứ thắc mắc, không biết cắt nghĩa tại sao tiếng chuông chùa thường nghe buồn hơn tiếng chuông nhà thờ? Rồi không biết có ngẫu nhiên trùng hợp hay không, thời điểm ấy, người ta hay nhắc đến bài Văng vẳng tiếng chuông chùa (thực ra, bài này tên Vì tiền lỗi đạo, chẳng qua về sau có người không hiểu cái gốc nên gọi tên theo câu đầu là Văng vẳng tiếng chuông chùa). Bài này hồi đó có nhiều người ca hay như Ba Tuất, Tám Thừa, Tư Bé nhưng người nghe biết nhiều nhất là giọng ca anh Năm Nghĩa (chồng của bà bầu Thơ và cũng là người cùng bà sáng lập gánh hát Thanh Minh - Thanh Nga). Tôi có anh bạn quen, lâu lâu mở đĩa hát nghe Năm Nghĩa ca, nhịp đờn chầm chậm, anh trầm ngâm rồi có lúc kêu lên khe khẽ: “Trời ơi! Nghe sao mà buồn thấm thía!"



