Thư gửi anh Mười Cúc và chiến lược cách mạng miền Nam
Ngày 7 tháng 2 năm 1961, Lê Duẩn gửi thư cho Nguyễn Văn Linh và các đồng chí Nam Bộ, trình bày nhiều nhận định về phương hướng đấu tranh của cách mạng miền Nam.
Lê Duẩn sinh năm 1907 tại Quảng Trị và là một trong những nhà lãnh đạo cách mạng gắn bó lâu năm với chiến trường miền Nam. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tiếp tục theo dõi sát tình hình miền Nam và tham gia xây dựng các chủ trương chiến lược của Đảng. Năm 1960, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình miền Nam có nhiều biến động đầu thập niên 1960, các bức thư chỉ đạo của Lê Duẩn gửi cho cán bộ lãnh đạo ở chiến trường trở thành nguồn tư liệu quan trọng phản ánh quá trình hình thành và triển khai đường lối cách mạng của Đảng trong giai đoạn này.
Ngày 7 tháng 2 năm 1961, Lê Duẩn gửi thư cho Nguyễn Văn Linh, thường được biết đến với bí danh Mười Cúc, cùng các đồng chí lãnh đạo tại Nam Bộ. Trong thư, ông phân tích đặc điểm của chiến trường miền Nam, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh đã tích lũy qua nhiều năm và đề cập đến việc kết hợp các hình thức đấu tranh phù hợp với điều kiện thực tế. Nội dung bức thư cho thấy sự quan tâm tới việc xây dựng lực lượng cách mạng, phát triển căn cứ, tổ chức đấu tranh chính trị và sử dụng đấu tranh vũ trang trong mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Đây là một văn bản được nhiều nhà nghiên cứu xem là có giá trị trong việc tìm hiểu tư duy chỉ đạo chiến lược của lãnh đạo Đảng đối với cách mạng miền Nam đầu những năm 1960.
Về sau, bức thư được tập hợp trong các tuyển tập và công trình nghiên cứu liên quan đến Lê Duẩn và lịch sử cách mạng Việt Nam. Giá trị của tài liệu không chỉ nằm ở nội dung chỉ đạo đối với một giai đoạn cụ thể mà còn ở khả năng phản ánh cách nhìn chiến lược đối với tình hình miền Nam trong bối cảnh chiến tranh ngày càng mở rộng. Thông qua văn bản này, các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở để tìm hiểu quá trình cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương đối với chiến trường miền Nam. Bức thư vì thế vẫn thường được nhắc tới như một tư liệu có ý nghĩa trong việc nghiên cứu lịch sử lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn đầu thập niên 1960.



