Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa: Người chèo thuyền qua giông bão, hóa phù sa cho đất Tây Đô
Một đời thanh liêm, hai lần đối đầu nghịch cảnh. Câu chuyện về Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa không chỉ là trang sử cũ, mà là ngọn lửa thiêng soi bóng bên dòng Bình Thủy, khắc họa chân dung một người con kiên trung trọn đời vì dân vì nước.
Có những cuộc đời khi nằm xuống đã hóa thành phù sa, lặng lẽ bồi đắp cho dải đất chín rồng thêm trù phú và kiên cường. Giữa những năm tháng thế kỷ 19 đầy biến động, khi bóng đen của gót giày xâm lược bắt đầu bao phủ bờ cõi Nam Kỳ, xứ Cần Thơ đã sinh ra một người con như thế. Ông không cầm gươm ra trận mạc, không chọn tiếng gầm vang của súng đạn để lưu danh, nhưng cuộc đời ông lại là một bản hùng ca bất khuất, một câu chuyện "thời hoa lửa" được viết bằng mực mài nước mắt và lòng trung nghĩa sắt son. Người đàn ông mang cốt cách hiên ngang ấy chính là Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa.
Sinh ra và lớn lên bên dòng sông Bình Thủy hiền hòa của đất Cần Thơ vào năm Đinh Mão (1807), cậu bé Bùi Hữu Nghĩa thuở nhỏ đã quen với cái nghèo xơ xác của gia đình làm nghề chài lưới. Cha ông là một ngư dân nghèo chịu thương chịu khó, quanh năm bầu bạn với con đò và tấm lưới trên sông. Thế nhưng, cái nghèo vật chất không ngăn nổi một trí tuệ phát triển rực rỡ. Tiếng sóng vỗ của dòng sông quê hương dường như đã hun đúc vào lòng cậu một ý chí tựa sóng cồn. Nhờ sự cưu mang của một người thầy tốt bụng phát hiện ra tài năng, chàng trai đất Bình Thủy đã miệt mài đèn sách suốt mười mấy năm trời. Đến năm Ất Mùi (1835), ông lều chõng đi thi tại trường thi Gia Định và xuất sắc đỗ Giải nguyên – tức vị trí Thủ khoa đầu bảng. Từ một đứa trẻ nghèo khó nơi làng quê hẻo lánh, ông bước vào chốn quan trường với danh xưng "Thủ khoa Nghĩa" đầy kiêu hãnh, được người đời ca tụng là một trong những chiếc vuốt của "Mãnh hổ Nam Kỳ", một cánh chim đại ngàn mang theo kỳ vọng của cả vùng đất phương Nam.
Nhưng cuộc đời làm quan của ông chưa bao giờ là thảm đỏ của vinh hoa phú quý, mà là một hành trình đầy bão giông chống lại cường quyền ác bá để chở che cho dân nghèo. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Phước Long thuộc tỉnh Biên Hòa, rồi sau đó vì tính tình quá thẳng thắn, không chịu luồn cúi nên bị phe cánh quan tham chèn ép, điều chuyển về làm Tri huyện Trà Vang (thuộc tỉnh Trà Vinh ngày nay). Chính tại vùng đất này, đỉnh điểm của khúc ca bi tráng mang tên ông đã diễn ra. Đứng trước nỗi oan khiên của những người dân Khmer nghèo khó bị bọn địa chủ phong kiến câu kết với giới quan quyền địa phương cướp mất nguồn sống trên rạch Láng Thé, ông đã không ngần ngại dùng chiếc mũ cánh chuồn và cả sinh mạng của mình để đánh đổi lấy công lý. Lời phán quyết của ông năm ấy vẫn còn vang vọng đến ngàn sau: "Sông rạch là của chung, ai cũng có quyền đánh cá để sinh sống". Lời phán quyết đầy tính nhân văn và công bằng ấy đã cứu sống hàng trăm số phận, nhưng lại đẩy chính ông vào chốn ngục tù với bản án tử hình oan nghiệt do kẻ xấu vu khống ông kích động dân chúng làm loạn.
Chính trong bóng tối của chốn lao tù ấy, một ngọn lửa khác lại bùng cháy, dệt nên giai thoại tuyệt đẹp về tình phu thê nghĩa nặng. Người vợ tào khang của ông, bà Nguyễn Thị Tồn, một người phụ nữ miền Nam kiên cường, đã làm nên một kỳ tích phi thường. Bà đã một mình vượt ngàn dặm đường xa xôi, chịu đựng gió rét và hiểm nguy, đi bộ và quá giang ghe thuyền từ Nam Kỳ ra tận kinh đô Huế. Tại đây, bà dũng cảm đến trước cửa Tam Pháp Ty đánh hồi trống kêu oan thấu trời cho chồng. Tấm lòng sắt son, lý lẽ sắc bén của người vợ và nhân cách chính trực của người chồng đã làm lay động đến cả vua Tự Đức và Thái hậu Từ Dụ. Vua truyền lệnh tha tội chết cho Bùi Hữu Nghĩa, chỉ phạt ông đi đoái công chuộc tội ở biên thùy miền Tây Nam Bộ.
Những năm tháng sau đó, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược cõi Nam Kỳ lục tỉnh, Bùi Hữu Nghĩa dứt khoát cởi bỏ áo quan, từ chối mọi vinh hoa phú quý mồi chài của giặc để giữ vẹn khí tiết của một nhà nho yêu nước. Ông trở về quê hương Bình Thủy (Cần Thơ), biến ngôi nhà nhỏ của mình thành nơi tụ họp ngầm của các sĩ phu yêu nước. Không trực tiếp cầm súng, ông dùng ngòi bút sắc bén làm vũ khí cổ vũ tinh thần nghĩa quân qua những bài văn tế, những câu thơ tiếng Việt đầy đanh thép. Đặc biệt, ông còn là tác giả của vở tuồng cổ kinh điển "Kim Thạch kỳ duyên", tác phẩm sân khấu không chỉ mang tính giải trí mà còn khéo léo lồng ghép lòng yêu nước, tình nghĩa thủy chung của con người. Ông vừa dạy học cho trẻ nhỏ, vừa bốc thuốc chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo cho đến hơi thở cuối cùng vào ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872).
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, khói lửa chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nhưng hào khí của vị Thủ khoa yêu nước vẫn hiển hiện sinh động trong lòng người dân Cần Thơ hôm nay. Giữa lòng quận Bình Thủy cổ kính, Khu tưởng niệm Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa được xây dựng khang trang trên một khuôn viên rộng lớn, nơi phần mộ của ông và người vợ hiền nằm yên bình dưới những tán cây xanh mát, trở thành một cõi thiêng liêng để hậu thế tìm về chiêm bái, tri ân. Di sản của ông không chỉ nằm ở những trang sử, mà đã hòa quyện vào huyết mạch của đời sống thường nhật. Tên của ông giờ đây đã hóa thân vào phố phường, là con đường Bùi Hữu Nghĩa sầm uất, nhộn nhịp dài hàng cây số nối liền các cửa ngõ của thành phố. Đó còn là mái trường THPT Bùi Hữu Nghĩa – nơi hằng ngày vang vang tiếng cười và tiếng đọc bài của hàng ngàn học sinh Cần Thơ, những mầm non đang tiếp bước lý tưởng thanh cao của người đi trước.
Mỗi năm, cứ đến ngày 21 tháng Giêng âm lịch, chính quyền và nhân dân Tây Đô lại long trọng tổ chức lễ giỗ cho ông. Trong khói hương trầm nghi ngút, giữa tiếng trống hội rộn ràng và những trích đoạn tuồng cổ được tái hiện, người dân lại nhắc nhở nhau về một thời hoa lửa oai hùng. Câu chuyện về một vị quan thanh liêm, một người chồng chung thủy và một sĩ phu yêu nước trọn đời vì dân sẽ mãi là ngọn đuốc sáng soi, hun đúc cho niềm tự hào vững bền của dải đất chín rồng.


