Thủ khoa Huân: ba lần dựng cờ, một lòng giữ tiết
Nguyễn Hữu Huân (1830–1875), người dân Nam Kỳ quen gọi là Thủ khoa Huân, là một
nhà nho đỗ đầu kỳ thi Hương trường Gia Định. Trong mười lăm năm, ông ba lần khởi
binh chống thực dân Pháp, và đến lúc bị giặc xử chém vẫn không chịu khuất phục.
Ông sinh năm 1830 ở làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc
Đồng Tháp). Ông học rộng, tính hào hiệp, có chí khí của bậc trượng phu. Sau khi đỗ thủ
khoa, ông ra làm giáo thọ, dạy học và được nho sĩ trong vùng kính trọng. Ông là một trí
thức đã bỏ bút nghiên để cầm quân khi nước nhà gặp nạn.
Tháng 4 năm 1861, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chiếm Mỹ Tho. Nguyễn Hữu Huân bỏ
chức quan, từ biệt gia đình, cùng Thiên hộ Dương (Võ Duy Dương) tập hợp nghĩa binh.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Tân An rồi lan sang Mỹ Tho.
Đầu năm 1862, ông bị Pháp bắt giải về Sài Gòn. Ông lại bí mật trở về hoạt động. Tháng 6
năm 1863, Pháp đánh vào căn cứ Thuộc Nhiêu (Cai Lậy), bắt ông lần nữa và kết án mười
năm khổ sai, đày ra hải ngoại. Các sách chép không thống nhất về nơi đày: có sách ghi là
đảo Réunion, có sách ghi là Cayenne.
Xa quê hương, lòng ông vẫn nặng nghĩa nước non. Khi trở về, ông lại mộ quân, đắp lũy,
chiêu tập nghĩa sĩ, có cử nhân Âu Dương Lân làm phó tướng. Ngày 15 tháng 5 năm 1875,
trong một trận giao chiến ở Chợ Gạo, ông bị bắt lần thứ ba và bị giam ở Mỹ Tho.
Giặc nhiều phen dụ dỗ, hứa cho ông địa vị nếu chịu theo chúng. Ông đều từ chối. Chúng
đành khép ông vào án tử, và ông bị chém tại Mỹ Tho vào giữa tháng 5 năm 1875, lúc mới
bốn mươi lăm tuổi. Phó tướng Âu Dương Lân sau đó cũng bị bắt và chịu cùng số phận.
Một người đỗ đạt, có chỗ đứng trong xã hội, hoàn toàn có thể chọn đường yên ổn. Thủ
khoa Huân đã chọn con đường nhiều gian nan hơn. Bị bắt, bị đày, trở về rồi lại cầm quân,
ông cho thấy lòng yêu nước không phải một phút bốc đồng mà là sự kiên trì qua nhiều
năm tháng. Ông cũng cho thấy người có học càng phải có trách nhiệm với đất nước và
biết giữ khí tiết trước cám dỗ. Hơn một trăm năm mươi năm sau, đền thờ, tượng đài và
nhiều con đường mang tên ông vẫn là dấu ghi của lòng biết ơn ấy.



