THỦ KHOA HUÂN - SĨ PHU YÊU NƯỚC BA LẦN KHỞI NGHĨA
Họ và tên nhân vật: Thủ Khoa Huân (tên thật là Nguyễn Hữu Huân)
Năm sinh - Năm mất: 1830 – 1875
Trong lịch sử chống ngoại xâm thế kỷ XIX tại Nam Kỳ, Nguyễn Hữu Huân là một hình tượng kiệt xuất kết hợp giữa trí tuệ sĩ phu và tinh thần chiến đấu quả cảm. Năm 1852, ông thi đỗ Thủ khoa giải Hương thí tại trường thi Gia Định, từ đó bảng vàng lưu danh và được người dân kính trọng gọi bằng cái tên thân thương: Thủ Khoa Huân. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, vị trí tể học thanh cao không giữ được chân ông; ông từ quan, rời bỏ bục giảng để tập hợp nhân dân và nghĩa sĩ đứng lên cứu nước.
Ký ức hoa lửa của Thủ Khoa Huân gắn liền với ý chí kiên cường, ba lần dấy binh khởi nghĩa bất chấp sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù. Lần đầu tiên, ông phối hợp với nền nghĩa quân của Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) lập căn cứ chống Pháp tại vùng Tân An, Mỹ Tho. Khi căn cứ thất thủ, ông bị giặc bắt và đày sang đảo Réunion ở châu Phi vào năm 1864. Suốt 5 năm chịu cảnh lưu đày xứ người, ngọn lửa yêu nước trong ông chưa bao giờ tắt. Trở về nước năm 1869, giặc Pháp giám lỏng ông tại Sài Gòn và giao chức giáo thụ với mưu đồ thuần phục, nhưng ông đã lợi dụng danh nghĩa này để tiếp tục liên lạc với các sĩ phu, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lần thứ hai.
Đến năm 1872, Thủ Khoa Huân cùng học trò thân tín là Âu Dương Lân rút về vùng Chợ Gạo, Định Tường, nhen nhóm ngọn lửa kháng chiến lần thứ ba. Nghĩa quân của ông dựa vào địa hình hiểm trở, dùng lối đánh du kích gây cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Trước sự truy quét gắt gao và sự phản bội của nội gián, ông bị giặc bắt lại vào năm 1875. Giặc Pháp dùng mọi biện pháp dụ dỗ, mua chuộc bằng tiền tài, chức tước nhưng ông tuyệt nhiên không quy phục. Ngày 19 tháng 5 năm 1875, thực dân Pháp đưa ông về hành quyết tại quê nhà Chợ Gạo. Trước khi bước lên pháp trường, ông hiên ngang làm bài thơ tuyệt mệnh bằng máu, giữ trọn khí tiết của một bậc sĩ phu trung kiên cho đến hơi thở cuối cùng.

