Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 ở làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Thủ khoa kỳ thi Hương tại Gia Định nên Nguyễn Hữu Huân thường được gọi là “Thủ khoa Huân”.

Chân dung Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân. Ảnh: Tư liệu
Tháng 2-1859, thực dân Pháp đem quân đánh hạ thành Gia Định. Lúc này, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân đang phụ trách việc học hành, thi cử ở Kiến Hưng, với chức Giáo thụ. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, giữa năm 1859, Nguyễn Hữu Huân từ bỏ chức Giáo thụ, ông hợp lực với Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa dũng, liên kết với các nhà yêu nước đứng lên phất cờ khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo đã thu hút được đông đảo nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tham gia kể cả phú hào. Và tầng lớp này là nguồn cung cấp tài chính, lương thực quan trọng cho nghĩa quân, như bá hộ Trần Văn Học - một người rất giàu có ở Bình Cách, cha vợ của Võ Duy Dương và là thông gia với Nguyễn Hữu Huân.
Ngoài ra, cuộc khởi nghĩa của 2 ông còn có sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ với nhiều thủ lãnh nghĩa quân khác, như Trương Định ở Tân Hòa (Gò Công), Trần Xuân Hòa ở Mỹ Quý (Cai Lậy), Bùi Quang Diệu (Quản Là) ở Cần Giuộc (Long An)… đã đánh thắng nhiều trận, gây cho địch nhiều khó khăn.

Hằng năm, lãnh đạo tỉnh Tiền Giang đều đến dâng hoa, thắp hương tưởng niệm Anh hùng dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tại Đền thờ của ông tại xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo.
Đầu năm 1862, bị giặc đánh úp, ông bị bắt giải về Sài Gòn; mặc cho giặc Pháp dùng mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết từ chối, tìm cách trốn thoát và trở về kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên quyết đánh giặc giữ đất, tháng 7-1862, ông đến căn cứ Tân Hòa (Gò Công) bàn việc thống nhất lực lượng nghĩa quân với Trương Định nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược. Tại đây, ông nhận chức Phó Đề đốc do vua Tự Đức ban cho.
Tháng 2-1863, sau khi căn cứ Tân Hòa thất thủ, ông và Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa quân, phất cờ khởi nghĩa lần thứ hai. Căn cứ chính được đặt tại thôn Bình Cách, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hòa (nay thuộc xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo).
Tổng hành dinh tọa lạc tại nhà của Đỗ Tường Kiên. Đó là một ngôi nhà cổ có tất cả 36 cửa kiên cố, chung quanh có ba lũy tre và hào rộng bao bọc. Ông còn nhận nhiệm vụ mang tiền quyên góp của nhân dân sang các tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên mua vũ khí để trang bị cho nghĩa quân.
Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, giữa năm 1863, giặc Pháp huy động một lực lượng hùng hậu tấn công căn cứ Bình Cách. Nguyễn Hữu Huân đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, khiến địch phải rất vất vả mới chiếm được căn cứ này. Để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Hữu Huân cho rút quân lên vùng Thuộc Nhiêu, tiếp tục chiến đấu, lưu động đánh Pháp nhiều trận ở Cái Thia, Cái Bè, Cai Lậy, Rạch Gầm, Trung Lương, Tân Lý…
Cuối năm 1863, thực dân Pháp tung lực lượng tấn công Thuộc Nhiêu. Nghĩa quân phải rút vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ mới. Theo sự phân công giữa ông với Võ Duy Dương; ông sang An Giang - nơi còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình - để tuyển mộ nghĩa quân và vận động nhân dân, kể cả triều đình, ủng hộ, đóng góp tiền của, vũ khí, lương thực cho cuộc kháng chiến.
Thế nhưng, do áp lực của thực dân Pháp, tháng 7-1864, quan Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận đã hèn nhát bắt ông giao nộp cho quân giặc. Một tháng sau, ông bị chính quyền thực dân kết án khổ sai chung thân, đày đi Cayenne (thuộc địa của Pháp ở Trung Mỹ).
Tháng 2-1869, ông được thả về nước và bị quản thúc tại nhà của Đỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn. Chúng lại tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng không thành. Lúc này, những “cộng sự” của Nguyễn Hữu Huân - các thủ lĩnh nghĩa quân lừng lẫy: Trương Định, Võ Duy Dương... đều đã hy sinh, Thủ khoa Huân vẫn kiên trì, bền bỉ một lòng đánh giặc giữ đất, tìm cách liên lạc với những người yêu nước và mưu tính phát động một cuộc khởi nghĩa lần thứ ba.



