THỦ KHOA NGUYỄN HỮU HUÂN - NGÀN NĂM VẪN ĐỎ TIM SON ANH HÙNG
THỦ KHOA NGUYỄN HỮU HUÂN - NGÀN NĂM VẪN ĐỎ TIM SON ANH HÙNG
Cách đây 150 năm, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân đã anh dũng, kiên cường cùng
nghĩa binh chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm giữa thế kỷ XIX
và tuẫn tiết một cách đầy khí phách. Ông là người con ưu tú của quê hương Tiền Giang,
là Anh hùng sống mãi cùng dân tộc với câu ca dao nổi tiếng được nhân dân ca ngợi "Một
lòng đền nợ nước non/Ngàn năm vẫn đỏ tim son anh hùng".
1. Tiểu sử:
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 ở làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định
Tường (nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Ngay từ nhỏ, ông nổi
tiếng thông minh, học giỏi; năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ thủ khoa kỳ thi
Hương tại Gia Định nên Nguyễn Hữu Huân thường được gọi là "Thủ khoa Huân".
2. Cuộc đời hoạt động cách mạng:
*"Ba lần đánh giặt giữ đất”
Tháng 02/1859, thực dân Pháp đem quân đánh hạ thành Gia Định. Lúc này, Thủ
khoa Nguyễn Hữu Huân đang phụ trách việc học hành, thi cử ở Kiến Hưng, với chức
Giáo thụ. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, giữa năm 1859, Nguyễn Hữu Huân từ bỏ
chức Giáo thụ, ông hợp lực với Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa dũng, liên kết với các nhà
yêu nước đứng lên phất cờ khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo đã thu hút
được đông đảo nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tham gia kể cả phú hào; và tầng
lớp này là nguồn cung cấp tài chính, lương thực quan trọng cho nghĩa quân, như bá hộ
Trần Văn Học - một người rất giàu có ở Bình Cách, cha vợ của Võ Duy Dương và là
thông gia với Nguyễn Hữu Huân. Ngoài ra, cuộc khởi nghĩa của hai ông còn có sự phối
hợp chiến đấu chặt chẽ với nhiều thủ lãnh nghĩa quân khác, như Trương Định ở Tân Hòa
(Gò Công), Trần Xuân Hòa ở Mỹ Quý (Cai Lậy), Bùi Quang Diệu (Quản Là) ở Cần
Giuộc (Long An),... đã đánh thắng nhiều trận, gây cho địch nhiều khó khăn.
Đầu năm 1862, bị giặc đánh úp, ông bị bắt giải về Sài Gòn; mặc cho giặc Pháp
dùng mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết từ chối, tìm cách trốn thoát và
trở về kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên quyết đánh giặc giữ đất, tháng
7/1862, ông đến căn cứ Tân Hòa (Gò Công) bàn việc thống nhất lực lượng nghĩa quân
với Trương Định nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược. Tại đây,
ông nhận chức Phó Đề đốc do vua Tự Đức ban cho.
Tháng 02/1863, sau khi căn cứ Tân Hòa thất thủ, ông và Võ Duy Dương chiêu mộ
nghĩa quân, phất cờ khởi nghĩa lần thứ hai. Căn cứ chính được đặt tại thôn Bình Cách,
tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hòa (nay thuộc xã Tân Bình Thạnh, huyện Chợ Gạo).
Tổng hành dinh tọa lạc tại nhà của Đỗ Tường Kiên. Đó là một ngôi nhà cổ có tất cả 36
cửa kiên cố, chung quanh có ba lũy tre và hào rộng bao bọc. Ông còn nhận nhiệm mang
tiên quyên góp của nhân dân sang các tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên mua vũ khí
để trang bị cho nghĩa quân.
Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, giữa năm 1863, giặc Pháp huy động một lực
lượng hùng hậu tấn công căn cứ Bình Cách. Nguyễn Hữu Huân đã chỉ huy nghĩa quân
chiến đấu rất anh dũng, khiến địch phải rất vất vả mới chiếm được căn cứ này. Để bảo
toàn lực lượng, Nguyễn Hữu Huân cho rút quân lên vùng Thuộc Nhiêu, tiếp tục chiến
đấu, lưu động đánh Pháp nhiều trận ở Cái Thia, Cái Bè, Cai Lậy, Rạch Gầm, Trung
Lương, Tân Lý...
Cuối năm 1863, thực dân Pháp tung lực lượng tấn công Thuộc Nhiêu. Nghĩa quân
phải rút vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ mới. Theo sự phân công giữa ông với Võ
Duy Dương; ông sang An Giang - nơi còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình - để
tuyển mộ nghĩa quân và vận động nhân dân, kể cả triều đình, ủng hộ, đóng góp tiền của,
vũ khí, lương thực cho cuộc kháng chiến. Thế nhưng, do áp lực của thực dân Pháp, tháng
7/1864, quan Tổng đốc An Giang là Phan Khắc Thận đã hèn nhát bắt ông giao nộp cho
quân giặc. Một tháng sau, ông bị chính quyền thực dân kết án khổ sai chung thân, đày đi
Cayenne (thuộc địa của Pháp ở Trung Mỹ).
Tháng 02/1869, ông được thả về nước và bị quản thúc tại nhà của Đỗ Hữu Phương
ở Chợ Lớn. Chúng lại tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng không thành. Lúc này,
những "cộng sự" của Nguyễn Hữu Huân - các thủ lĩnh nghĩa quân lừng lẫy: Trương Định,
Võ Duy Dương... đều đã hy sinh, Thủ khoa Huân vẫn kiên trì, bền bỉ một lòng đánh giặc
giữ đất, tìm cách liên lạc với những người yêu nước và mưu tính phát động một cuộc
khởi nghĩa lần thứ ba.
Năm 1872, ông thoát về Mỹ Tho, Chợ Gạo; và cùng với Âu Dương Lân nổi lên
khởi nghĩa. Từ đây, phong trào chống Pháp do ông đứng đầu lan tỏa mạnh mẽ khắp vùng
Mỹ Tho, Chợ Gạo, Tân An (nay thuộc tỉnh Long An), Chợ Lớn (nay thuộc TP. Hồ Chí
Minh),... Thủ lĩnh ở nhiều nơi cũng tham gia phong trào, như Nguyễn Văn Chất ở Vĩnh
Long, Lê Công Thành, Phan Văn Đồng, Lâm Lễ ở Cần Thơ,... Có thể nói, một hệ thống
của lực lượng kháng chiến đã được xây dựng tại nhiều thôn xã, nhất là ở Mỹ Tho và Chợ
Gạo.
Cuối năm 1874, thực dân Pháp huy động một lực lượng hùng hậu, từ nhiều hướng
tấn công căn cứ Bình Cách. Nghĩa quân kháng cự vô cùng quyết liệt; nhưng do thế giặc
quá mạnh, sau đó phải tan rã. Ông bị sa vào tay giặc lần thứ ba, giặc Pháp giam ông ở
nhà ngục Mỹ Tho; hết tra tấn dã man lại giở trò mua chuộc; nhưng vẫn không làm lung
lay khí tiết của một vị anh hùng yêu nước.
Bất lực trước tấm lòng kiên trung, bản lĩnh cách mạng của Thủ khoa Huân, chúng
quyết định giết ông và tổ chức hành quyết thật ác liệt, hòng đem điều đó hù dọa dân vào
ngày 15/4 năm Ất Hợi (19/5/1875) bằng cách xử chém ông tại chợ Tịnh Hà (nay thuộc xã
Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo).
Trước lúc hy sinh vì nghĩa lớn của dân tộc, Nguyễn Hữu Huân vẫn lạc quan, bình
thản và sáng tác câu đối tuyệt mạng, tỏ rõ ý chí kiên cường, bất khuất của mình: "Hữu chí
nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị/Duy công bất tựu, diệc quyên nhất tử báo
quân ân"; có nghĩa là "Có chí khó giương ra, luống để trăm năm mang miệng thế/Dầu
công không đạt được, cũng liều một chết báo ơn vua". Những vần thơ ấy toát lên khí
phách hiên ngang của vị anh hùng kiên trung đánh giặc giữ đất, trọn đời với nước non.
3.Tri ân vị anh hùng dân tộc
Sau khi ông tử tiết, hai người con gái của ông là Nguyễn Thị Vạn và Nguyễn Thị
Tánh đứng ra lập mộ trên một gò nhỏ thuộc làng Tịnh Giang (nay là ấp Hòa Quới, xã
Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang).
Theo Bảo tàng tỉnh Tiền Giang, lúc đầu, mộ được đắp bằng đất; sau đó, xây lại
bằng đá xanh theo lối voi phục với tấm bia mộ khá lớn có chạm khắc câu đối và bài thơ
tuyệt mạng của ông. Phần đá của ngôi mộ rộng 4m2; núm mộ gồm có hai phiến đá lớn
ghép lại, trên có chạm hoa văn hình xoáy trôn ốc. Bia mộ gồm ba phiến đá: chân bia có
chạm hoa văn dây lá; thân bia rộng 1 mét, cao 0,72 mét, dày 0,4 mét, đỉnh bia có chạm
hoa văn hình mây và sóng nước.
Để tưởng nhớ đến công lao Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, tỉnh Tiền Giang đã xây
dựng đền thờ bên cạnh phần mộ của ông (xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo). Vào năm 1985,
dựng tượng đài Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân với chất liệu bằng đá hoa cương, cao hơn 7
mét, phần đế cao 4 mét, được đặt tại ngã ba sông Mỹ Tho - kênh Bảo Định (thuộc
Phường 1, TP. Mỹ Tho), nơi xưa kia, giặc Pháp đã đưa ông xuống tàu để chở về quê nhà
hành hình. Đền thờ và lăng mộ của Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân được Bộ Văn hóa -
Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp
Quốc gia theo Quyết định số 112-VH/QĐ ngày 15/6/1987. Hàng năm, lễ giỗ Anh hùng
dân tộc Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân được tổ chức rất trang trọng vào ngày 14 và 15/4
âm lịch và đông đảo nhân dân đến dâng hương, tưởng niệm.
Ngoài ra, trên vùng đất Chợ Gạo - mảnh đất từng chứng kiến bao biến động của
lịch sử qua hai cuộc chiến tranh của dân tộc - có một ngôi trường mang trong mình dấu
ấn thiêng liêng, đó là Trường Trung học phổ thông (THPT) Thủ Khoa Huân. Mang tên
gọi của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Huân, ngôi trường như một cột mốc nhắc nhở
bao thế hệ học trò về một thời kỳ bi tráng của dân tộc. Tên trường không chỉ là biểu
tượng tri ân một nhân vật lịch sử đã ngã xuống vì lý tưởng tự do, mà còn là sự tiếp nối
mạch nguồn tinh thần bất khuất, ý chí vươn lên của người dân miền sông nước. Từ ngày
thành lập cho đến nay, trải qua nhiều đổi thay của thời cuộc, Trường THPT Thủ Khoa
Huân đã không ngừng phát triển, trở thành nơi hun đúc nhân tài, giữ gìn bản sắc văn hóa
và khơi dậy tinh thần yêu nước trong từng thế hệ học sinh.
4. Giá trị cho thế hệ hôm nay
Sự nghiệp cứu nước tuy chưa thành, nhưng cuộc khởi nghĩa và tấm lòng kiên
trung, son sắt với sự nghiệp cứu nước mãi là một mẫu mực về lòng yêu nước, tinh thần
chiến đấu chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất trong lịch sử đấu tranh chống giặc
ngoại xâm dân tộc Việt Nam. 150 năm trôi qua, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, khí phách kiên cường, bất khuất của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Hữu Huân vẫn
luôn ngời sáng, sống mãi với non sông, đất nước.
Cuộc đời Thủ khoa Huân có thể không mang lại thắng lợi cuối cùng, nhưng tấm
lòng son sắt, sự kiên trung đến hơi thở cuối cùng của ông đã trở thành biểu tượng cho
lòng yêu nước Việt Nam.
Ngày nay, khi nhắc đến ông, người dân lại truyền nhau câu ca dao:
“Một lòng đền nợ nước non
Ngàn năm vẫn đỏ tim son anh hùng.”
Và câu chuyện về ông vẫn được kể mãi – như một ngọn lửa bất diệt thắp sáng lòng
tự hào dân tộc.



