Thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu: Ngọn cờ Nghĩa hội Quảng Nam và sự hy sinh lẫm liệt năm 1887
Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887) là một nhà nho uyên thâm và thủ lĩnh lỗi lạc của Nghĩa hội Quảng Nam (nay thuộc TP Đà Nẵng). Hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông cùng các chí sĩ tổ chức lực lượng vũ trang chống Pháp, gây tiếng vang lớn. Khi phong trào suy yếu, ông dũng cảm tự nộp mình để bảo vệ sinh mạng đồng bào. Bị xử trảm vào tháng 10-1887, ông để lại bài thơ tuyệt mệnh đanh thép, khẳng định ý chí kiên trung bất khuất của dân tộc.
Ông sinh năm 1847. Người làng Thanh Hà, huyện Duyên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, Quảng Nam). Từ nhỏ ông nổi tiếng là một thanh niên hiếu học thông minh (Theo bản đồ sáp nhập, toàn bộ tỉnh Quảng Nam sáp nhập vào Thành phố Đà Nẵng).
Có sách ghi tên ông là Nguyễn Hiệu, tục gọi là Hường Hiệu vì ông có hàm Hồng lô tự Khanh, Phụ đạo (dạy con vua). Ông theo Nho học đến năm 1876, thi đỗ cử nhân và cách ba năm sau, vào năm 1879, ông thi đỗ phó bảng lúc tuổi 32.
Là một nhà thông thái, học lực uyên thâm, đạo đức tốt, diện mạo xuất thần, ông được triều đình Huế cho mời về cung chuyên dạy các con của Vua. Được trọng dụng như thế, nhưng ông chẳng màng. Ông từ quan về quê thành lập Nghĩa hội. Năm 1885, ông cùng Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hàm phát động cuộc khởi nghĩa hưởng ứng hịch Cần Vương, chống lại Nguyễn Thân, tên tay sai của thực dân Pháp. Phong trào do ông và một số sĩ phu phát triển rộng gây nên một tiếng vang lớn.
Thực dân Pháp tìm cách triệt phá phong trào. Tháng 8 năm 1887, ông tự nộp mình cho giặc Pháp tại núi Non Nước. Chúng dụ hàng nhưng ông vẫn bất khuất không quy phục. Ngày 1-10-1887 (tức rằm tháng tám năm Đinh Hợi), chúng đưa ông ra xử tử, ông vẫn hiên ngang xứng đáng là người anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Ông hy sinh một cách anh dũng, để lại niềm cảm phục và thương kính của hàng ngàn chiến sĩ yêu nước trong phong trào đấu tranh vì chính nghĩa nà. Ông chết vào tuổi đời 40 đầy sung sức và yêu đời, nhiệt tình với dân với nước.
Ông có thơ rằng:
"Vô địch Tây Nam biết đã thừa, / Thời cơ như thế lẽ ngồi trơ / Đảo như không trở tay giàn kín, / Giặc khó gì hơn gập lưỡi bừa. / Núi lạnh từng côi xơ xác đứng, / Nhà to cột một khó khăn ngừa, / Về chầu liệt thánh lòng son đấy, / Tháng Tám trăng rằm sẵn nhịp đưa" (Bản dịch thơ).


