TỪ NHÀ TRƯỜNG RA CHIẾN TRƯỜNG Tháng 11 năm 1971, khoá đào tạo 1 của trường Đại học Kỹ thuật quân sự làm lễ tốt nghiệp ra trường. Sau khi nhận bằng tốt nghiệp, tôi về nhận công tác tại Khoa Cơ bản, mặc dù tốt nghiệp ngành Vũ khí, nhưng biết tôi có năng khiếu giảng dạy các môn khoa học cơ bản và kỹ thuật cơ sở, thầy Lê Phương Cảo, lúc đó là Hiệu phó phụ trách công tác huấn luyện đã quyết định điều tôi về Khoa Cơ bản. Trước khi về khoa nhận nhiệm vụ thầy Lê Phương cảo hỏi tôi:
- Đồng chí có đồng ý về Khoa Cơ bản không?
Tôi trả lời: Tôi đồng ý!
Thật ra vào khoảng thời gian đó, nếu cấp trên đã có quyết định thì hầu như cấp dưới sẽ chấp hành ngay, ít ai có ý kiến ngược lại.
Thầy hỏi tiếp:
- Nếu về Khoa Cơ bản, đồng chí muốn dạy môn học nào?
Do đã có chuẩn bị từ trước, tôi trả lòi luôn:
- Tôi muốn dạy môn nguyên lý máy.
Nguyện vọng của tôi được chấp nhận, thế là tôi khoác ba lô về Khoa Cơ bản, bộ môn Cơ kỹ thuật, môn học Nguyên lý máy.
Tổ bộ môn Nguyên lý máy lúc bấy giờ đã có các anh: Nguyễn Chấn, Phan Văn Chạy, Ngô Quyết, Trần Văn Định và bây giờ thêm tôi nữa, thành ra có 5 giáo viên. Tôi là người mới về, còn phải có thời gian đọc và soạn giáo trình trước khi chính thức lên lớp.
Tuy nhiên, về bộ môn chưa được bao lâu, tôi lại được lệnh tập trung để đi thực tế chiến trường, vì năm ấy nhà trường có chủ trương đưa giáo viên đi thực tế. Do mới về bộ môn, chưa bắt tay vào soạn giáo trình và cũng chưa lên lớp ngày nào nên việc cử tôi đi thực tế chiến trường là không ảnh hưởng gì tới công tác giảng dạy của bộ môn. Về chuyện riêng tư, tôi cũng không có gì phải vương vấn. Đã 27 tuổi tôi chưa có vợ và cũng chưa có người yêu. Những năm tháng còn học ở trường, tôi cũng theo đuổi một bóng hồng. Đó là mối tình đầu, một mốì tình lãng mạn, nhưng nó chỉ diễn ra trong trí tưởng tượng và trên thư từ. Mối tình của một chàng trai, mói rời khỏi ghế nhà trường phổ thông, không có một chút thực tế nào về tình yêu và cũng như nhiều mối tình đầu nó cũng đã đi đến cái kết cục như trong lời bài hát "Vĩnh biệt mùa hè" của Nhạc sĩ Thanh Tùng. Đó là "Vĩnh biệt tình đầu, tình đầu là cơn giông chợt qua mau, qua mau! Vĩnh biệt tình đầu. Tình đầu làm con tim ta đớn đau!".
Trong bộ môn cùng được cử đi thực tế chiến trường với tôi lần này còn có anh Khoa, giáo viên hình họa. Anh Khoa ra trường và đã làm giáo viên được hai năm, chưa có vợ, chưa có người yêu và trong quá khứ cũng chưa có mối tình nào vắt vai, mặc dù là một người khá hóm hỉnh và có năng khiếu kể chuyện tiếu lâm.
Nhà trường tổ chức nhiều đoàn đi về các đơn vị, trong đó tôi và anh Khoa được vào đoàn sẽ về Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Đoàn gồm có: Anh Lê Xuân Đình, Trung úy, Phó Tiến sĩ ô tô - xe máy - Trưởng đoàn, anh Phong, Trung úy, trợ lý Phòng Tuyên huấn, Chính trị viên kiêm Bí thư chi bộ, anh Phạm Văn Trợ, Trung úy, Phó Tiến sĩ động cơ, anh Khải, Trung úy, giáo viên công binh, anh Đông, Thiếu úy, giáo viên toán, anh Hoàng Hải, Chuẩn úy, trợ giáo pháo mặt đất, anh Đình Thắng, Chuẩn úy, kỹ sư ô tô, anh Khoa và tôi.
Trước khi chúng tôi về đoàn tập trung, bộ môn đã tổ chức liên hoan. Thời ấy những buổi liên hoan thường rất đạm bạc, chỉ có vài cái bánh, cái kẹo, nước chè, thuốc lá. Mọi người hy vọng chúng tôi ra đi hoàn thành tốt nhiệm vụ và sẽ có ngày trở về để tiếp tục con đường cống hiến cho sự nghiệp khoa học. Chị Hảo, giáo viên cơ học lý thuyết và cô Doan, nhân viên phòng thí nghiệm đã bỏ công sức để thêu tặng chúng tôi mỗi người một chiếc khăn tay có bông hoa hồng và dòng chữ "Hẹn ngày chiến thắng".
Khoảng cuối tháng 12 năm 1971, Đoàn chúng tôi được xe ô tô của Nhà trường đưa về Bộ Tư lệnh Thiết giáp, lúc bấy giờ đang đóng ở Cam Lâm, cách nhà trường chỉ khoảng 15km. Sau khi về Bộ Tư lệnh Thiết giáp đoàn chúng tôi được điều về Trung đoàn 202.
Về đến trung đoàn, anh Phong Chính trị viên của đoàn được điều về Ban Chính trị Trung đoàn, còn tất cả chúng tôi thì được điều về Ban Hậu cần.
Lúc này trung đoàn đang ráo riết làm công tác chuẩn bị để đi chiến trường. Mới từ nhà trường ra đơn vị, chúng tôi còn rất bỡ ngỡ. Riêng tôi là sĩ quan mới tốt nghiệp không hề có kinh nghiệm gì trong công tác bảo quản sửa chữa vũ khí thì công việc chắc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong thòi gian học ở trường 5 năm thì 3 năm đầu chúng tôi học các môn khoa học cơ bản, kỹ thuật cơ sở. Đến năm thứ 4 chúng tôi bắt đầu học, về vũ khí. Nhưng tất cả các giáo trình về vũ khí đều nặng về lý thuyết như: Thiết kế pháo mặt đất, thiết kế vũ khí bộ binh, thiết kế súng cối, thiết kế bệ phóng tên lửa... Nguyên lý hoạt động của hệ thống điều khiển tự động pháo trên tăng... | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Thử lửa« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2020, 05:55:43 pm » |
Hiểu biết về nguyên lý các loại vũ khí, các loại đạn, ngòi đạn thì rất rộng, nhưng khả năng thực hành của chúng tôi lại còn rất yếu. Trong 5 năm học, chúng tôi chỉ có một học kỳ học về trang bị điển hình, chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh và hai loại pháo mặt đất là pháo lựu 122mm và pháo nòng dài 85mm. Việc học tập chủ yếu là giới thiệu nguyên lý hoạt động của vũ khí qua tranh vẽ. Việc thực hành tháo lắp, nghiên cứu các loại hỏng hóc và phương pháp sửa chữa còn rất hạn chế. Ngoài ra chúng tôi còn có một học kỳ được đi thực tập ở xưởng sửa chữa vũ khí. Nhưng khi về thực tập ở xưởng chúng tôi xem nhiều hơn là làm. Vì vậy tuy đã có bằng kỹ sư vũ khí nhưng khi có việc phải sờ vào vũ khí, chúng tôi chẳng khác gì xẩm sờ voi.
Trong thời gian đang chuẩn bị đi chiến dịch, một lần tôi nhận được lệnh xuống Đại đội hoả lực sửa chữa bộ phận giảm xóc cho một khẩu côi 82mm. Việc này đối với một người thợ vũ khí bậc 3 thì là một việc quá đơn giản. Vì vậy khi điều một kỹ sư vũ khí xuống để giải quyết thì ai cũng nghĩ rằng không có gì phải quan tâm. Tuy nhiên đối với tôi thì không phải thế, khi bắt đầu tiếp xúc với khẩu súng cối, tôi phải cố gắng nhớ lại các vấn đề vế nguyên lý cấu tạo, hoạt động của bộ phận giảm xóc. Tôi loay hoay suốt buổi sáng, mồ hôi toát ra đầm đìa. Quá trưa, may quá, tôi cũng giải quyết được vấn đề. Nếu không thì mang tiếng là kỹ sư mà không sửa được một hư hỏng thông thường của bộ phận giảm xóc của khẩu cối 82mm. Tôi biết mình còn rất thiếu kinh nghiệm và kiến thức của việc sửa chữa vũ khí, đây là một khó khăn rất lớn đôi với một kỹ sư vũ khí chuẩn bị đi chiến trường. Rất may, đây chỉ là một hư hỏng nhỏ và tôi lại có thời gian tĩnh tại để suy nghĩ, phân tích nên mới khắc phục được. Còn nếu là một hư hỏng phức tạp hơn, lại xảy ra ngay trên chiến trường, giữa tiếng đạn nổ bom rơi và yêu cầu khẩn cấp của công việc thì liệu tôi có giải quyết được không? Công tác thực tiễn ở đơn vị và trên chiến trường đòi hỏi người kỹ sư vũ khí phải có khả năng thực hành. Không có khả năng thực hành, người kỹ sư mới ra trường không khác gì một người sắp được thả xuống nước mà chưa biết bơi.
5 năm ở trường chúng tôi học quá nhiều thứ. Nhưng chúng tôi lại chưa kịp chuẩn bị kỹ cho công việc chính của mình là phải thành thạo và có khả năng huấn luyện cho người khác việc sử dụng, tháo lắp, sửa chữa và hiệu chỉnh các loại vũ khí trong phạm vi chuyên ngành của mình. Cũng trong thời gian chuẩn bị đi chiến trường tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm. Đó là vào khoảng cuối tháng 1 năm 1972, tôi và anh Khoa, giáo viên hình họa nhận nhiệm vụ theo anh Lê Xuân Tấu, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 198 đi nhận pháo cao xạ 37-2 tự hành tại Nhà máy Z153 ở Đông Anh. Loại cao xạ tự hành này do ta cải tiến bằng cách lắp nguyên khẩu pháo cao xạ 37-2 lên xe tăng T-34 đã được dỡ bỏ tháp pháo. Tôi không biết gì về quá trình thiết kế và bắn thử nhưng khi đến nhìn khẩu pháo tự hành thì tôi có cảm giác rằng nó chỉ được chở trên một chiếc xe tăng T-34 còn khả năng che chắn cho các pháo thủ khi chiến đấu thì rất hạn chế vì toàn bộ khẩu pháo và các pháo thủ khi thao tác đều nằm phía trên thân xe tăng, hầu như không có gì che chắn cả và khi lắp pháo kiểu này thì pháo không thể bắn được khi xe tăng đang hành tiến.
Tuy nhiên việc tiếp nhận pháo cũng được đồng chí Lê Xuân Tấu (tuyên dương anh hùng quân đội, tháng 5-1972), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 198 tiến hành rất cẩn thận và tỷ mỷ bởi vì 4 khẩu pháo cao xạ tự hành này sẽ thuộc biên chế của Tiểu đoàn 198 khi hành quân vào chiến trường. Đồng chí Lê Xuân Tấu sau này là Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp và cùng về hưu với tôi một lượt.
Sau gần một buổi sáng, chủ yếu là kiểm tra tình trạng kỹ thuật của xe xem có đủ khả năng vào chiến trường được hay không. Rồi đồng chí Lê Xuân Tấu cũng quyết định nhận xe đưa về đơn vị. Bây giờ nghĩ lại mới thấy việc lắp khẩu pháo cao xạ 37-2 lên xe tăng T-34 đã dỡ tháp pháo là một việc làm xuất phát từ một suy nghĩ quá đơn giản. Việc lắp pháo phòng không lên xe tăng phức tạp không khác gì lắp pháo trên tàu thuỷ, nhất thiết phải có hệ thống tự động điều chỉnh khi con tàu chòng chành trên sóng nước cũng như khi xe tăng cơ động trên địa hình không bằng phẳng thì mới có thể bắn được khi hành tiến. Đặc biệt đối với pháo cao xạ khi tự hành chiến đấu với máy bay thì việc che chắn bảo đảm an toàn cho pháo thủ khi bị máy bay địch oanh tạc là điều rất quan trọng, cả hai điều kiện đó đều không có đối với khẩu cao xạ 37-2 lắp trên chiếc xe tăng T-34 này. Nhưng lúc đó với tinh thần có gì dùng nấy chúng tôi vẫn cứ nhận và hành quân về đơn vị. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Thử lửa« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2020, 06:13:54 am » |
Trên đường hành quân về đơn vị, chúng tôi phải đi trên những con đường xuyên qua những cánh rừng bạch đàn. Tôi và anh Khoa đi một xe. Tôi thì ngồi ở ghế lái phụ bên trong xe, anh Khoa thì lại thích ngồi ở vị trí pháo thủ của khẩu pháo cao xạ để quan sát khả năng ổn định của khẩu pháo trong quá trình hành quân. Xe đang đi với tốc độ khoảng trên 30km/h thì trước mặt bỗng hiện ra một cái rãnh sâu khoảng lm, rộng khoảng 5m cắt ngang con đường. Đối với xe tăng thì vượt qua một cái rãnh như vậy chẳng có gì là khó khăn. Chỉ cần giảm ga cho xe giảm tốc độ, từ từ bò xuống rãnh và cứ thế vượt qua.
Tuy nhiên sự việc lại không diễn ra như thế. Khi xe tăng đến gần mép rãnh tôi bỗng thấy xe rú ga lao xuống rãnh, trượt nghiêng theo sườn đồi và lao ầm ầm xuống dưới, làm đổ rạp khoảng 20m cây bạch đàn rồi dừng lại. Hoá ra, thay vì giảm ga, đạp phanh để xe từ từ đi xuống rãnh thì lái xe lại tăng ga nên mới có kết cục như thế. Sở dĩ như vậy là vì thòi gian huấn luyện lái xe tăng trước khi ra chiến trường là rất ít, có lẽ chưa đầy 3 tháng. Khi xe lao xuống rãnh, ngồi ở ghế lái phụ, tôi bị tung người lên, đầu đập vào thành xe tăng đau điếng. Sau khi xe tăng dừng lại, tôi bỗng nhớ phía trên xe còn có anh Khoa. Tôi gọi lái xe bước ra khỏi xe để xem tình hình anh Khoa như thế nào. Rất may anh Khoa không bị bay khỏi xe tăng, nhưng đầu gối thì va vào cái kẹp đạn của khẩu pháo cao xạ 37-2 rách một đoạn dài. Chúng tôi lấy cái ruột tượng (tức là cái vỏ bao đựng gạo) băng bó lại cho anh Khoa, sau đó xe tiếp tục hành quân về đơn vị. Với sự cố này anh Khoa phải vào bệnh xá điều trị gần 20 ngày.
Ngày 13 tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 66 thuộc Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 bắt đầu ra ga Vĩnh Yên để hành quân vào chiến trường. Tôi được đồng chí chủ nhiệm hậu cần trung đoàn phân công hành quân cùng với Tiểu đoàn 66. Khoảng 7 giờ sáng, đội hình của Tiểu đoàn 66 gồm 31 chiếc xe tăng và thiết giáp đã tập kết đầy đủ ở ga Vĩnh Yên để chuẩn bị lên tàu. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến các sĩ quan chỉ huy từng chiếc xe leo lên bệ xi măng rồi bò vào từng toa xe. Những toa xe này chỉ có sàn xe. Đang đứng ở ga Vĩnh Yên quan sát xe lên tàu thì tôi gặp một đoàn cán bộ, chiến sĩ của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự đi từ phía thị xã Vĩnh Yên về trường. Thế là không hẹn mà gặp, tình cờ tôi lại có người đưa tiễn lên đường, mọi người đều chúc tôi gặp nhiều may mắn và sẽ bình yên trở về. Trong đoàn có một học viên người Lào là con của Hoàng thân Xuphanuvông rất quen biết tôi vì hầu như chiều nào cũng gặp nhau ở sân bóng rổ. Anh có tên Việt Nam là Nguyễn Quang Đại. Khi cả đoàn về rồi, Đại vẫn ở lại ga với tôi cho đến tận trưa và anh nói với tôi rằng: Hôm nay là ngày 13 mà đơn vị xuất hành thì rất có thể sẽ gặp nhiều điều không may. Tôi thì không tin nhưng cứ gật gù cho phải lẽ.
Khoảng 11 giờ trưa việc đưa xe thiết giáp lên tàu và cố định chặt đã được hoàn tất. Chúng tôi lên tàu và bắt đầu hành quân. Xin chào thị xã Vĩnh Yên, chào Trường Đại học Kỹ thuật quân sự, từ trong toa tàu nhìn ra cửa sổ tôi thấy những ngôi nhà 5 tầng chưa trát vách của Trường Đại học Kỹ thuật quân sự khuất xa dần rồi mất hắn. Đoàn tàu lao về phía Nam, khoảng 8 giờ tối, chúng tôi đến ga Vinh. Trong nhà ga, đèn điện sáng trưng, những chiếc xe được tháo cáp cố định, lại từ các toa tàu, leo qua các bệ xi măng và bò xuống đất. Từ Vinh chúng tôi bắt đầu hành quân đường bộ dọc tuyến đường Trường Sơn để vào Vĩnh Linh. Đêm hôm đó chúng tôi tạm dừng chân ở một cánh rừng, ở đó có rất nhiều thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến toàn là con gái. Họ ùa ra, vây lấy những chiếc xe tăng của chúng tôi, tay bắt, mặt mừng, cả cánh rừng náo nhiệt hẳn lên. Nhưng những giờ phút hân hoan ngắn ngủi ấy cũng nhanh chóng qua đi. Chúng tôi chia tay. Đoàn xe lại xuyên vào đêm tôi tiếp tục cuộc hành trình của mình. Khoảng 2 giờ sáng chúng tôi dừng lại để ngủ, cả ngày hôm sau chúng tôi nghỉ ngơi và bảo quản xe tăng và đến 7 giờ tôi, khi mặt trời tắt hẳn chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình của mình cho đến 2 giờ sáng ngày hôm sau.
Một đêm, khi đến địa điểm tập kết là một cánh rừng, trời bắt đầu mưa tầm tã, chưa bao giờ tôi được chứng kiến một trận mưa to và dai dẳng đến như thế. Đúng là mưa rừng, mưa như xối nước kéo dài hàng tiếng đồng hồ. Trời tôi đen nhưng nhờ những ánh chớp, chúng tôi cũng lần mò mắc võng và che tăng để nằm ngủ. Mặc dù mưa như xối, chúng tôi vẫn ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Sáng ra, tôi mới thấy xung quanh toàn đất mới đào lên. Ngay chỗ chúng tôi nằm là một ngôi mộ vừa mới đắp xong, đòn khiêng, dây thừng còn vương vãi khắp nơi. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Thử lửa« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2020, 06:14:32 am » |
Một đêm khác, khi đến vị trí tạm dừng là một cánh rừng thưa, không có cây to để mắc võng. Trời rất lạnh vì mới giữa tháng ba. Tôi phát hiện ra ánh lửa bập bùng trong đêm từ phía xa. Qua mấy ngày chịu lạnh nhất là khi trải qua cái đêm mưa rừng, tôi rất thèm được nằm bên ánh lửa bập bùng trong ngôi nhà của người dân tộc. Sau khi đã báo cáo chỉ huy đơn vị, tôi rủ đồng chí Bạch lái phụ, chiếu theo ánh lửa để đi tìm chỗ ngủ. Tưởng là gần, thế mà chúng tôi phải lần mò trong đêm gần một tiếng mới có thể đến nơi. Đó là một túp lều tranh, bên trong có 3 người dân tộc, họ đều là những ông cụ đang ngồi nói chuyện. Họ nói gì chúng tôi không hiểu. Thấy hai anh bộ đội vào, họ niềm nở bắt tay chúng tôi. Chúng tôi ngỏ ý muốn nằm ngủ ở đó, các ông cụ liền dành chỗ cho chúng tôi, không nói được nhiều, chỉ vài phút sau, chúng tôi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau thức dậy, không còn ai ở trong lều, lửa đã tắt chúng tôi lại quay về vị trí tạm dừng của đơn vị.
Có một đêm không thể nào quên được. Lúc ấy vào khoảng 1 giờ sáng, đoàn xe của chúng tôi đi xuống một thung lũng. Trời mưa, mưa mỗi lúc một lớn hơn. Bỗng dưng tôi phát hiện phía sau chiếc xe đi trước tôi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi hỏi đồng chí Dũng lái xe:
- Tại sao phía trước khói bốc lên như thế?
Dũng trả lời luôn:
- Chắc là bấm nhầm công tắc hoả mù.
- Thế là tôi yên trí ngồi đợi.
Một lúc sau, tôi thấy một người chạy ra đứng trước mũi xe và ra hiệu cho xe tôi tắt máy. Dũng tắt khoá điện nhưng máy vẫn cứ nổ, không khí nồng nặc mùi xăng. Tôi bỗng thấy trong người nôn nao, không thể nào chịu được nữa. Lính tráng đang ngủ trong xe thức cả dậy. Mọi người đều cảm thấy không thể chịu nổi. Tôi ra lệnh: Tất cả đeo mặt nạ phòng độc vào! Tôi cũng làm như thế, tuy nhiên sau khi đeo mặt nạ phòng độc vào, tôi vẫn cứ hít đầy mùi xăng vào phổi. Xe vẫn nổ máy. Không thế cứ đứng tại chỗ mà chịu trận, tôi ra lệnh cho đồng chí Dũng lái cho xe ra khỏi thung lũng ngay. Dũng nhả phanh, nhả ly hợp, tăng ga, chiếc xe lao trong màn sương mù leo lên sườn đồi rồi bò lên đỉnh đồi, chúng tôi thoát khỏi màn sương xăng. Dũng bước ra khỏi buồng lái đi loạng choạng mấy bước rồi ngã xuống, ngất xỉu. Lúc này tôi mới thấy có lẽ vì chưa quen và còn để quan sát khi lái xe, Dũng đã không đeo mặt nạ phòng độc. Ra khỏi màn sương xăng, coi như đã thoát nạn, mọi người tháo mặt nạ, nhìn xuống thung lũng còn dày đặc màn sương xăng, nhưng vẫn chưa kịp hiểu việc gì đã xảy ra. Bởi vì chứng kiến sự việc xảy ra từ đầu chỉ có tôi và đồng chí Dũng, còn mọi người lúc đó đều đang ngủ. Để mừng tai qua nạn khỏi, đồng chí Dĩ, Thượng sĩ Trung đội trưởng, mang lương khô và thuốc lá Tam Đảo cho toàn xe ăn mừng. Trời vẫn còn mưa, nhưng không còn nặng hạt. Trên đồi không có cây cối gì, chỉ toàn là các bụi sim nên không thể mắc võng được. Sau một hồi chuyện trò cười nói huyên thuyên, chúng tôi rải các tấm tăng ni lông lên các bụi sim, lăn ra ngủ.
Sáng hôm sau thức dậy, chúng tôi nhìn thấy tất cả cây cỏ trong thung lũng đều cháy xém. Nhớ lại sự việc ngày hôm qua, nguyên nhân của sự việc là do chiếc xe đi trước chúng tôi khi xuống thung lũng đã chẹt phải đường ống xăng của Đoàn 559 khi xăng đang được bơm với áp lực cao. Khi vỡ đường ống, với áp lực rất lớn, xăng phun ra như một màn sương. Chúng tôi đã nằm trong màn sương xăng và lần đầu tiên tôi đã biết cảm giác nhiễm độc xăng là như thế nào. Những phút đầu tiên thì chưa thấy gì, nhưng khi đã có tác dụng thì diễn biến rất nhanh. Tay chân bủn rủn, sông lưng ớn lạnh và người ta sẽ cảm thấy ngay rằng nếu kéo dài thêm dù chỉ một thời gian ngắn nữa là người ta sẽ hoàn toàn mất khả năng chống đỡ. Vì vậy tôi đã ra lệnh cho Dũng phải nhanh chóng thoát ra khỏi thung lũng, thoát ra khỏi màn sương xăng. Khi xe tăng chạy trong màn sương xăng ống xả vẫn phụt khói và vẫn có những tàn lửa nhỏ phụt ra rất dễ làm cho màn sương xăng bắt lửa cháy và nổ. Ngay sau đó, các chiến sĩ đường ống cho chúng tôi biết: Các anh may đấy. Lần trước một xe ô tô cũng chẹt phải đường ống. Màn sương xăng bắt lửa cháy và nổ tung. Những người nào đang trong màn sương xăng đều bị chết cháy.
Sở dĩ chúng tôi không bị cháy là do hôm đó trời mưa to. Tôi vẫn cứ thắc mắc, tại sao hôm đó tôi đã đeo mặt nạ phòng độc vào mà vẫn hít đầy hơi xăng? Hay là bầu lọc của mặt nạ phòng độc không có khả năng lọc được hơi xăng? Tôi hỏi các chiến sĩ sau khi đeo mặt nạ phòng độc vào có hít phải hơi xăng không. Mọi người đều trả lời là không hít phải hơi xăng nữa. Hoá ra là do tôi đeo mặt nạ phòng độc không đúng cỡ. Tôi đeo phải cái mặt nạ cỡ lớn, không ôm chặt vào mặt, có nhiều khe hở, nên khi thở hơi xăng vẫn lọt vào. Còn một vấn đề nữa phải hỏi các kỹ sư động cơ: Vì sao trong màn sương xăng, khi đã tắt khoá điện, động cơ diezel vẫn cứ tiếp tục nổ? Đó là đêm đáng ghi nhớ nhất trong cuộc hành quân từ Vinh vào Vĩnh Linh của chúng tôi.
Đêm cuối cùng trên đường hành quân vào Vĩnh Linh, tròi vẫn mưa tầm tã. Chúng tôi nhìn thấy những đoàn xe kéo pháo với những chiếc xe xích ATC-59, những khẩu pháo nòng dài 130mm, nối đuôi nhau đi trên đường. Tôi mơ hồ nhận thây rằng chúng tối sắp bước vào một chiến dịch lớn, nhưng quy mô và độ ác liệt của nó thì chưa ai hình dung được. Những người lính của đại đội hoả lực vẫn ngồi lắc lư trên xe thiết giáp, lim dim ngủ và trong giấc ngủ chập chờn có khi họ còn mơ thấy những miền quê yên bình và hình bóng của một ai đó trong cuộc đời của họ. Chúng tôi cũng nhìn thấy những đoàn chiến sĩ bộ binh, trên vai là ba lô và súng đạn, lầm lũi đi dưới trời mưa. Cùng đi vào chiến trường, nhưng chúng tôi vẫn còn sướng vì được ngồi trên xe tăng, đôi chân không mỏi rã rời, đôi vai không đau ê ẩm và thân mình không ngấm nước mưa như những người lính bộ binh.
Sau khi chúng tôi đến Vĩnh Linh một ngày, tôi tạm xa Tiểu đoàn 66 lên nông trường Quyết Thắng, nơi đó sẽ là hậu cứ của Trung đoàn 202.
Chúng tôi đã đến sát với chiến trường... | |
|
|