Thư mùa đông đọc giữa mùa xuân
Tháng 3-1983, tổ phóng viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi được cử đi công tác ở vùng cực Bắc của Tổ quốc. Sau hai ngày ròng rã, chúng tôi đến Hà Giang-thị xã biên giới vừa trải qua một cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và đang trong tầm pháo của đối phương.
... Tôi nhớ nhất hôm tôi cùng các anh: Lê Lựu, Hữu Thỉnh đến Đoàn T.77 bộ đội Hà Tuyên. Bài thơ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh được anh sáng tác trong những ngày này. Bản nháp của bài thơ tôi chép được như sau:
Thư viết cho em nhòe nét mực
Phên thưa sương muối cứ bay vào
Núi rét đêm qua chừng mất ngủ
Sáng ra thêm bạc một nhành lau.
Ở đây tuyết trắng bên chăn mỏng
Bếp đỏ cơm trưa núi vẫn mờ
Mực đóng thành băng trong ruột bút
Hơ hoài than đỏ chảy thành thư.
Chắn gió cây run trong rễ tím
Hạt ngô gieo xuống cũng co mầm
Có hôm đồng đội đi công tác
Nhớ đấy, nhưng mà... thêm lớp chăn.
Gà buốt gáy lười dăm tiếng khản
Ca bát khua cho đỡ bất thường
Núi giấu trong lòng trăm thứ quặng
Anh bòn không kiếm đủ rau ăn...
Gạo thường lên sớm, thư thời chậm
Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm
Bao năm không thấy màu con gái
Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...
Mây đến thường rủ anh mơ mộng
Biết vậy, khuya em đỏ ánh đèn
Ước gì có chút hương bồ kết
Cho đá mềm đi núi ấm lên...
Mãi đến sau này, khi bài thơ “Thư mùa đông” được in báo và vào các tuyển thơ gần đây, tác giả vẫn ghi dưới bài thơ: “Mèo Vạc, tháng 3-1983”.
Ai cũng biết, mùa đông là mùa rét, mùa đông ở miền Bắc đã rét, mùa đông ở vùng cao biên cương phía Bắc còn rét hơn. Rét với con người đã rét, rét với người lính, đặc biệt lại là những người lính xa nhà, những người lính trên chốt, trên điểm cao, điểm tựa càng khốc liệt hơn, nhiều khi dưới 10 độ, thậm chí 0 độ, rét bạc cả núi đá, thâm tím cả gốc cây rừng:
Núi rét đêm qua chừng mất ngủ
Sáng ra thêm bạc một nhành lau
Và:
Chắn gió cây run trong rễ tím
Hạt ngô gieo xuống cũng co mầm
Rét đến nỗi con gà cũng lười tiếng gáy và trở nên khản giọng: “Gà buốt gáy lười dăm tiếng khản”...
Bộ đội ta trên chốt bấy giờ, lính biên cương phía Bắc khi ấy, phải đêm ngày đối mặt với quân địch, với những đợt pháo kích dữ dội, những cuộc tập kích lấn chiếm bất ngờ và nham hiểm từ phía bên kia... bên cái rét cắt da, cắt thịt là cái thiếu, cái đói người lính có khi phải tự lên núi, vào rẫy “bòn” từng ngọn rau:
Núi giấu trong lòng trăm thứ quặng
Anh bòn không kiếm đủ rau ăn...
Vì thế mới có chuyện những bữa cơm bộ đội chỉ có “Nước chấm đại dương/ Bát canh toàn quốc”.
Nhưng với người lính biên giới phía Bắc khi ấy, đói rét và thiếu thốn vật chất cũng không bằng thiếu thốn tình cảm. Người lính sống xa nhà đã khổ, những người lính biên cương làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc càng thấm thía hơn. Họ mong thư nhà thì thư không đến được hoặc đến chậm:
Gạo thường lên sớm, thư thời chậm
Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm
Bao năm không thấy màu con gái
Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...
(Hai câu thơ theo tôi là hay nhất, ấn tượng nhất, thi sĩ nhất và cũng lãng mạn nhất của nhà thơ-chiến sĩ Hữu Thỉnh trong “Thư mùa đông”: “Bao năm không thấy màu con gái/ Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...”).
Trở lại với những người lính biên cương trong cuộc chiến ngày ấy, họ đợi ngóng thư nhà, tin nhà đôi khi vô vọng, muốn viết thư đi lắm lúc cũng không được, không xong, bởi:
Mực đóng thành băng trong ruột bút
Hơ hoài than đỏ chảy thành thư!...
Tuy nhiên, như các bậc đàn anh thời kháng chiến chống Pháp xưa, các anh vẫn “đời cứ tươi nên đạn cứa giòn” (ý thơ Lê Kim) và họ vẫn lãng mạn, vẫn mơ ước: “Ca bát khua cho đỡ bất thường” và:
Mây đến thường rủ anh mơ mộng
Biết vậy, khuya em đỏ ánh đèn
Ước gì có chút hương bồ kết
Cho đá mềm đi núi ấm lên.
Thế đấy, những người lính bảo vệ biên giới phía Bắc những năm cuối 1979, đầu thập niên 1980 đã sống như thế, tôi rèn như thế, hy sinh như thế để gìn giữ toàn vẹn từng tấc đất của Tổ quốc thân yêu và để chúng ta có được HÔM NAY!



