Bài viết

Thư mùa đông đọc giữa mùa xuân

Phú Thọ16/01/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến - sưu tầm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 3-1983, tổ phóng viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội chúng tôi được cử đi công tác ở vùng cực Bắc của Tổ quốc. Sau hai ngày ròng rã, chúng tôi đến Hà Giang-thị xã biên giới vừa trải qua một cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và đang trong tầm pháo của đối phương.

Tổ gồm nhà văn Lê Lựu, nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Vương Trọng, nhà văn Nguyễn Trí Huân và tôi. Thị xã nơi chúng tôi đến, đoạn đường gần nhất ra biên giới chưa đầy 20km, thời tiết vẫn còn rất lạnh nhưng so với lúc áp Tết đã ấm lên rất nhiều, nghe nói ở trên điểm tựa của các chiến sĩ ta đã có tuyết rơi. Tuyết rơi dày 30-40cm, trong khi đó tấm chăn của chiến sĩ ta chỉ có 7 lạng! Nghe vậy, chúng tôi sốt ruột lắm, ai cũng nóng lòng đến ngay các điểm tựa tiền tiêu.Chúng tôi giấu xe ở một nơi xa biên giới và đi bộ lên phía đường biên. Các đồng chí ở Đồn Biên phòng 105 dẫn chúng tôi lên điểm tựa C.M-nơi các chiến sĩ Đoàn B.13 đang làm nhiệm vụ. Lối lên cao và dốc vậy mà đường hào do bộ đội ta đào cũng vươn tới được. Sương mù ùa vào dày đặc các căn hầm bê tông kiên cố. Lác đác có những cây mỡ do chiến sĩ ta trồng đã nảy những chùm lá xanh đầu tiên.Trong căn hầm trực chiến, các chiến sĩ xúm quanh chúng tôi, nghe và hỏi chuyện về Hà Nội. Ở đây ai cũng trẻ, cũng vui nhộn. Chúng tôi hỏi các chiến sĩ về đối phương, về đời sống hằng ngày trên điểm tựa. Chuyện trò thế nào mà lại hóa ra như một cuộc “hội thảo” về bài thơ “Điểm tựa” của đồng chí Lê Đức Thọ. Ở đây ai cũng biết bài thơ này. Anh em lính ta bảo “khoái nhất” là mấy câu nói về bữa cơm với “bát canh toàn quốc và nước chấm đại dương”.Anh em hỏi tôi về tác giả bài thơ, tôi nói tác giả bài thơ “Điểm tựa” là đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Lê Đức Thọ tuy không phải là người lính, chưa từng đội mũ, đeo sao nhưng là cán bộ cấp cao của Đảng, từng nhiều lần vào chiến trường; là người rất gần gũi với bộ đội và đã viết rất nhiều bài thơ về người lính, về chiến trường.

... Tôi nhớ nhất hôm tôi cùng các anh: Lê Lựu, Hữu Thỉnh đến Đoàn T.77 bộ đội Hà Tuyên. Bài thơ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh được anh sáng tác trong những ngày này. Bản nháp của bài thơ tôi chép được như sau:

Thư viết cho em nhòe nét mực

Phên thưa sương muối cứ bay vào

Núi rét đêm qua chừng mất ngủ

Sáng ra thêm bạc một nhành lau.

Ở đây tuyết trắng bên chăn mỏng

Bếp đỏ cơm trưa núi vẫn mờ

Mực đóng thành băng trong ruột bút

Hơ hoài than đỏ chảy thành thư.

Chắn gió cây run trong rễ tím

Hạt ngô gieo xuống cũng co mầm

Có hôm đồng đội đi công tác

Nhớ đấy, nhưng mà... thêm lớp chăn.

Gà buốt gáy lười dăm tiếng khản

Ca bát khua cho đỡ bất thường

Núi giấu trong lòng trăm thứ quặng

Anh bòn không kiếm đủ rau ăn...

Gạo thường lên sớm, thư thời chậm

Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm

Bao năm không thấy màu con gái

Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...

Mây đến thường rủ anh mơ mộng

Biết vậy, khuya em đỏ ánh đèn

Ước gì có chút hương bồ kết

Cho đá mềm đi núi ấm lên...

Mãi đến sau này, khi bài thơ “Thư mùa đông” được in báo và vào các tuyển thơ gần đây, tác giả vẫn ghi dưới bài thơ: “Mèo Vạc, tháng 3-1983”.

Ai cũng biết, mùa đông là mùa rét, mùa đông ở miền Bắc đã rét, mùa đông ở vùng cao biên cương phía Bắc còn rét hơn. Rét với con người đã rét, rét với người lính, đặc biệt lại là những người lính xa nhà, những người lính trên chốt, trên điểm cao, điểm tựa càng khốc liệt hơn, nhiều khi dưới 10 độ, thậm chí 0 độ, rét bạc cả núi đá, thâm tím cả gốc cây rừng:

Núi rét đêm qua chừng mất ngủ

Sáng ra thêm bạc một nhành lau

Và:

Chắn gió cây run trong rễ tím

Hạt ngô gieo xuống cũng co mầm

Rét đến nỗi con gà cũng lười tiếng gáy và trở nên khản giọng: “Gà buốt gáy lười dăm tiếng khản”...

Bộ đội ta trên chốt bấy giờ, lính biên cương phía Bắc khi ấy, phải đêm ngày đối mặt với quân địch, với những đợt pháo kích dữ dội, những cuộc tập kích lấn chiếm bất ngờ và nham hiểm từ phía bên kia... bên cái rét cắt da, cắt thịt là cái thiếu, cái đói người lính có khi phải tự lên núi, vào rẫy “bòn” từng ngọn rau:

Núi giấu trong lòng trăm thứ quặng

Anh bòn không kiếm đủ rau ăn...

Vì thế mới có chuyện những bữa cơm bộ đội chỉ có “Nước chấm đại dương/ Bát canh toàn quốc”.

Nhưng với người lính biên giới phía Bắc khi ấy, đói rét và thiếu thốn vật chất cũng không bằng thiếu thốn tình cảm. Người lính sống xa nhà đã khổ, những người lính biên cương làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc càng thấm thía hơn. Họ mong thư nhà thì thư không đến được hoặc đến chậm:

Gạo thường lên sớm, thư thời chậm

Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm

Bao năm không thấy màu con gái

Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...

(Hai câu thơ theo tôi là hay nhất, ấn tượng nhất, thi sĩ nhất và cũng lãng mạn nhất của nhà thơ-chiến sĩ Hữu Thỉnh trong “Thư mùa đông”: “Bao năm không thấy màu con gái/ Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em...”).

Trở lại với những người lính biên cương trong cuộc chiến ngày ấy, họ đợi ngóng thư nhà, tin nhà đôi khi vô vọng, muốn viết thư đi lắm lúc cũng không được, không xong, bởi:

Mực đóng thành băng trong ruột bút

Hơ hoài than đỏ chảy thành thư!...

Tuy nhiên, như các bậc đàn anh thời kháng chiến chống Pháp xưa, các anh vẫn “đời cứ tươi nên đạn cứa giòn” (ý thơ Lê Kim) và họ vẫn lãng mạn, vẫn mơ ước: “Ca bát khua cho đỡ bất thường” và:

Mây đến thường rủ anh mơ mộng

Biết vậy, khuya em đỏ ánh đèn

Ước gì có chút hương bồ kết

Cho đá mềm đi núi ấm lên.

Thế đấy, những người lính bảo vệ biên giới phía Bắc những năm cuối 1979, đầu thập niên 1980 đã sống như thế, tôi rèn như thế, hy sinh như thế để gìn giữ toàn vẹn từng tấc đất của Tổ quốc thân yêu và để chúng ta có được HÔM NAY!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thư mùa đông đọc giữa mùa xuân | Câu chuyện thời hoa lửa