Bài viết

Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn''Ngôi nhà nhỏ bên bờ Thạch Hãn

Phú Thọ14/01/2026suu tầm (đàon xã vinh tường)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngôi nhà nhỏ bên bờ Thạch Hãn

Năm 1972, khi chị Thu ngày đêm chèo đò cùng cụ Nguyễn Con trên dòng Thạch Hãn, người chồng tương lai - anh Nguyễn Câu - buộc phải trốn biệt để tránh bị quân đội Sài Gòn bắt đi lính. Sau Hiệp định Paris, năm 1974, chị Thu và anh Câu mới nên duyên vợ chồng. Đất nước thống nhất, họ cùng gia đình bên nội trở về quê cũ ở làng Giang Hến. Ngôi nhà dựng tạm chỉ bằng tranh tre, quay mặt ra phía sông, nơi mở cửa là nghe tiếng nước vỗ bờ, tiếng gió kéo dài trên bãi cát. Vợ chồng trẻ sớm tối bươn chải bằng nghề cào hến trên chính “dòng sông mưa đỏ một thời”

Không lâu sau, cụ Nguyễn Con già yếu hẳn sau cả đời sông nước. Chị Thu làm dâu, vừa phụ chồng mưu sinh, vừa tận tình chăm nom cha chồng như chăm một người đồng đội. Rồi, cụ ra đi vì bệnh nặng. Cụ Nguyễn Thị Nghĩa - mẹ chồng chị - cũng mất không lâu sau đó.

Vợ chồng bà Thu có 4 con, 3 trai 1 gái. Người con út là anh Nguyễn Ngọc Phi hiện ở sát cạnh nhà cha mẹ. Phi từng học Cao đẳng Cầu đường 3 năm ở Đà Nẵng. Ra trường, anh đi làm vài năm nhưng chỉ được giao trông coi kho vật liệu giữa cánh đồng hoang cho một doanh nghiệp tư nhân. Đường nghề nghiệp bế tắc, Phi trở về quê, làm nghề bốc vác để nuôi gia đình. Vợ anh là giáo viên mầm non, đồng lương chỉ đủ quán xuyến chi tiêu tối thiểu. Ngày mưa lũ, con đường làng ngập sâu, vợ chồng trẻ vẫn gùi gạo, bồng con vượt nước. Cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng ngôi nhà nhỏ luôn ấm tiếng người.

4-4.jpg -0

Bức ảnh “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành Cổ Quảng Trị” do nhà báo Đoàn Công Tính chụp năm 1972.

Suốt nhiều năm, vợ chồng bà Thu và ông Câu vẫn bám nghề cào hến. Mỗi sớm, khi sương còn vương trên mặt sông, họ đã có mặt ở bãi, lội xuống làn nước lạnh, cào lên những giỏ hến lấp lánh phù sa. Với nhiều người, đó chỉ là kế sinh nhai. Với bà Thu, còn là một cuộc đi về với ký ức. Bà tin rằng dưới lớp bùn vẫn còn đâu đó dấu vết của những đồng đội năm xưa. Đôi tay lặn mò không chỉ tìm miếng ăn mà còn lần tìm một sợi dây vô hình nối về quá khứ. Nhưng, dòng sông thay đổi từng mùa. Giang Hến lại thấp trũng, mỗi năm nước lớn tràn qua vài lần, cuốn phăng mọi thứ nhỏ bé. Con sông cuối cùng vẫn đổ ra biển, cuốn theo cả những hy vọng mong manh về một cuộc tìm thấy.

Vài năm trở lại đây, sức khỏe bà Thu giảm sút rõ rệt. Bệnh tiền đình tái phát theo thời tiết, huyết áp thất thường, khớp gối đau nhức khiến bà không còn theo nổi nhịp lao động nặng nhọc. Vợ chồng bà đành gác mái chèo, sống dựa vào con cái cùng khoản trợ cấp hằng tháng dành cho bà với tư cách du kích, cộng thêm phụ cấp bệnh tật. Số tiền 2 triệu đồng mỗi tháng ít ỏi, nhưng giúp gia đình cầm cự qua những ngày trở gió. Người làng vẫn bảo, nhìn bà khỏe mạnh, mập mạp, ít ai ngờ trí nhớ đã hao hụt nhanh theo năm tháng. Mỗi khi trái gió trở trời, bà lại nhức đầu, chóng mặt, có khi phải vào bệnh viện cấp cứu. Những cơn đau đến rồi đi, như một tiếng vọng muộn màng từ trận địa cũ.

Dẫu sức khỏe suy giảm, thói quen tri ân chưa bao giờ gián đoạn. Từ sau hòa bình đến nay, cứ mỗi rằm, ba mươi hay mồng một Âm lịch, bà lại ghé Thành cổ thắp hương. Có khi bà ra bờ Thạch Hãn, chọn vài bông hoa cúc tươi, lặng lẽ thả xuống dòng nước. Những bông hoa trôi đi, lăn tăn ánh sáng, mang theo lời khấn thầm không thành tiếng. Ngày mưa, bà đứng ở thềm nhà nhìn mưa gột rửa bãi bồi. Ngày nắng, bà ngồi bên mành cửa, nghe tiếng nước vỗ nhè nhẹ. Tất cả gói trong một nếp sống kiệm lời, bền bỉ như bờ tre trước gió.

Buổi chiều, làng Giang Hến thật yên tĩnh, tôi đứng ở cửa nhà bà Thu nhìn ra. Mùa này dòng Thạch Hãn êm như tấm lụa. Nước trôi qua bờ cát, bâng khuâng như đếm từng viên sỏi. Trong ngôi nhà cấp 4 đã nhuốm màu thời gian, bức ảnh lão ngư và cô gái năm nào vẫn treo ngay gian chính. Bên cạnh là chiếc bàn gỗ cũ kỹ, cùng vài vật dụng đơn sơ nhưng nói được rất nhiều về một đời người.

Rời ngôi nhà nhỏ, tôi đi về phía bờ sông. Nắng cuối chiều rơi xuống mặt nước, một dải lấp lánh kéo dài đến tận khúc quanh. Tôi nghĩ về những bông hoa tươi thắm bà đã thả, về những nén hương đã đốt ở Thành cổ suốt mấy chục năm. Dòng sông vẫn trôi, vừa chở nặng quá khứ, vừa xoa dịu hiện tại. Ở đầu ngọn sóng ấy, một gia đình vẫn lặng lẽ bám đất bám sông, sống chậm mà bền, như cách người đưa đò năm xưa đã từng bám chèo giữa khói lửa. Và, tôi tin, chỉ cần con nước còn trong, trời còn xanh, những điề

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn