Thư tình của cầu thủ anh hùng Phạm Ngọc Khánh
“Liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh - Trung đội trưởng đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần kiên quyết tiến công địch, chỉ huy sâu sát, mưu trí, linh hoạt, dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...
“Liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh - Trung đội trưởng đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần kiên quyết tiến công địch, chỉ huy sâu sát, mưu trí, linh hoạt, dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Trong một trận đánh ở khu vực Khe Sanh ngày 28-6-1968, đồng chí dẫn đầu đơn vị tiến vào đánh chiếm đồn địch. Bị thương nặng 3 lần, có lần ngất đi, khi tỉnh lại, đồng chí lại tiếp tục chỉ huy đơn vị thọc sâu, chia cắt tiêu diệt địch. Trong trận này, riêng đồng chí đã tiêu diệt 4 ụ súng lợi hại của địch, diệt 26 tên Mỹ, góp phần tạo điều kiện cho bộ đội xung phong giành được thắng lợi trận đánh…” (12 đơn vị anh hùng và 9 anh hùng LLVT nhân dân giải phóng vừa được tuyên dương - Báo Quân đội nhân dân - số 3156 ngày 4-3-1970).
Chị trao cho tôi những lá thư của anh gửi cho chị rồi lặng lẽ khóc. Hơn một trăm bức thư với nét chữ rắn rỏi và phóng khoáng ấy được chị phô-tô lại rồi đóng thành một tập dày, có lẽ chủ nhân của nó đã đọc đi đọc lại nhiều lần nên đã quăn mép. Chị bảo, hơn 40 năm chị âm thầm lặng lẽ giữ gìn báu vật đó, cho đến năm 2010, trong một lần đi lễ ở chùa, hình ảnh của anh hiện về làm cho lòng chị nóng như lửa đốt. Chị quyết định về nhà anh ở thành phố Hải Dương để trao lại, còn phần mình chỉ giữ lại bản sao.
|
Chị Dương Thị Ngọc đọc lại những lá thư của Anh hùng Phạm Ngọc Khánh. Ảnh: Trung Nguyên. |
Chị là Dương Thị Ngọc, hiện đang ở trong một con hẻm nhỏ của phố Khâm Thiên, Hà Nội.
Một ngày đầu năm 1967, tại HTX mua bán huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, nơi Ngọc đang công tác, xuất hiện một chàng thiếu úy cao to, đẹp trai, có cái nhìn cương trực và thẳng thắn. Chị Yến, người Hải Dương, đang công tác cùng cơ quan Ngọc giới thiệu đó là Phạm Ngọc Khánh, 25 tuổi, đồng hương với chị, nguyên là cầu thủ số 8 của Thể Công, mới tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân, đang làm nhiệm vụ ở Đoàn 246 Quân khu Việt Bắc, đóng quân ở Sơn Dương (Tuyên Quang). Chỉ gặp nhau vài phút ngắn ngủi nhưng qua ánh nhìn trìu mến, qua những câu chuyện sôi nổi của anh, linh tính của một cô gái 19 tuổi như mách bảo Ngọc có một sợi dây mơ hồ nào đó đang níu kéo hai người lại với nhau.
Quả đúng như vậy, sau khi về đơn vị, anh Khánh đã viết thư cho Ngọc với lời lẽ thiết tha trìu mến:
“Sơn Dương 17-3-1967: Những ngày này anh vô cùng bận rộn Ngọc ạ, sẽ làm việc thông cả trưa nữa đấy, nhưng cũng chẳng làm anh quên được Ngọc đâu-một cô gái nhỏ và ngoan. Anh nhắc lại lần nữa nhé: Anh sẽ nhớ “cô ấy” hiện tại và cả tương lai nữa. Em nghĩ gì, Ngọc? Nếu cầm lá thư này mà em hồi hộp thì mọi việc tốt lành sẽ đến với em…”.
Không phải Ngọc không xúc động trước ánh mắt trìu mến, trước những lời tha thiết của anh. Nhưng hồi đó chị mới được kết nạp Đảng, tổ chức nhắc nhở hãy tạm gác chuyện riêng tư để phấn đấu. Hơn nữa, anh Khánh là một sĩ quan đẹp trai, lại từng là một cầu thủ nổi tiếng của đội Thể Công lừng danh, chắc hẳn có nhiều bạn gái, vậy tình cảm của anh dành cho Ngọc, một cô gái giản dị ở vùng rừng núi này liệu có chân thành? Nghĩ vậy nên viết thư trả lời, Ngọc chỉ cảm ơn rồi hỏi thăm sức khỏe. Không ngờ bức thư làm anh mừng đến cuống quýt:
|
Di ảnh Anh hùng - liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh. |
“27-4-1967: Nhận được thư em tối qua, 26-4, anh vui lắm, đọc đi đọc lại không biết bao lần, khi thấy em mệt anh rất lo, nhưng đoạn sau em nói khỏe rồi anh mừng lắm…
Thời gian qua anh mong tin em vô cùng, nhất là những ngày giặc Mỹ đánh phá đất Thái Nguyên và Khu gang thép. Ở nơi xa này nhiều lần nhìn lũ cướp Mỹ từng tốp từng tốp một bay về phía đó mà lòng mình đau nhói. Vì sao chắc là em hiểu.
Ngọc em của anh! Anh cứ muốn Ngọc kể thật tỉ mỉ về cuộc sống của em, về gia đình em. Và cả anh cũng chẳng thể giấu em. Anh thấy rằng, muốn tin và thân nhau thì trước hết phải hiểu biết về người mình muốn thân. Chỉ như vậy tình anh em mới gắn bó, tình bạn mới vững bền…”.
Nói là làm. Lá thư sau đề ngày 9-5-1967, dày đến… 15 trang, Phạm Ngọc Khánh kể hết cuộc đời sóng gió của anh cho Ngọc nghe, mà giờ đây khi được đọc lại, lòng tôi không khỏi rưng rưng. Cuộc đời của cậu bé Khánh, như lời anh kể, buồn đau giống như nhân vật trong tác phẩm “Sống nhờ” của Mạnh Phú Tư…
Phạm Ngọc Khánh sinh năm 1942 ở xã Thanh Lâm (nay là thị trấn Nam Sách) huyện Nam Sách, Hải Dương. Bố đi thoát ly kháng chiến, sau đó vì nhiều lý do, bố mẹ Khánh chia tay nhau. Tuổi thơ của cậu bé Khánh sống nhờ bà nội và người bác ruột ở thành phố Hải Dương. Khánh thông minh, học giỏi nhưng nghịch ngợm, ham chơi và rất thích đá bóng, nhiều hôm quên cả về nhà ăn cơm nên không tránh được đòn roi và mắng nhiếc của bác gái…
Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, bố Khánh đi chiến đấu trở về đưa cậu lên Hà Nội ở và tiếp tục ăn học. Nhưng rồi bố lấy vợ khác, cảnh “dì ghẻ con chồng” làm Khánh luôn luôn sống trong tủi nhục. Mới học lên lớp 8, Khánh quyết định nghỉ học và xin theo học lớp Dạy nghề của Cục Quân giới (Bộ Quốc phòng) mở tại Hải Phòng. 18 tháng sau ra trường, Khánh được phân công lên công tác tại Nhà máy Z1 ở Yên Bái. Tại đây, tài đá bóng của anh đã lọt vào mắt xanh của các nhà tuyển trạch Thể Công khi đội bóng lên nhà máy giao hữu. Tháng 10-1962, Phạm Ngọc Khánh được điều về chơi ở vị trí tiền vệ cho đội bóng lừng danh này.
Những tháng ngày đó đối với chàng tiền vệ thật đẹp, thật hạnh phúc. Khánh được học bổ túc lớp 9, học tiếng Anh, tiếng Pháp… Và mối tình đầu đã đến với anh. Đó là một nữ diên viên múa Ba-lê xinh đẹp của Trường Múa Trung ương, do mến tài của chàng tiền vệ cao to, đẹp trai mà theo anh đến các sân vận động xem anh và Thể Công thi đấu.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Khánh bị mổ mũi vì bị chấn thương khi thi đấu ở Trung Quốc, lại bị gãy chân trong một trận tranh giải miền Bắc tại sân Vinh (Nghệ An), buộc anh phải giải nghệ. Nỗi buồn nối tiếp nỗi buồn. Ít lâu sau, từ Béc-lin (Đức) cô diễn viên múa Ba-lê viết thư cho anh: “Anh Khánh! Em vẫn sống bình yên mạnh khỏe. Một tuần ngoài tập chuyên môn, chúng em có hai buổi chiều học thêm tiếng Đức… Ôi sao mà tiếng Đức phát âm khó thế anh nhỉ? Nó khó khăn như ngày gặp lại của chúng ta ấy…”. Khánh biết, đó là lời chia tay “lịch sự” của một tài năng Ba-lê mà anh từng yêu tha thiết.
Phạm Ngọc Khánh khao khát tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống. Thiếu thốn tình cảm từ nhỏ, giờ đây gặp cô gái trong trắng, ngây thơ, trong lòng anh cháy lên tình cảm dữ dội. Từ chỗ anh đóng quân cho đến chỗ Ngọc chỉ 35 cây số nhưng đi lại khó khăn do máy bay Mỹ ném bom ác liệt. Tuy vậy có điều kiện là anh đạp xe băng qua đêm tối để thăm Ngọc. Không đến thăm được là anh viết thư, có khi 3 lá thư liên tiếp của anh không đến được cô gái anh yêu:
“24-8-1967: Mong mãi hôm nay mới nhận được thư em. Biết không em, anh hồi hộp vui sướng đến mức độ nào. Lúc nãy buồn ngủ là thế mà giờ tỉnh như sáo sậu…
Đọc thư em anh hiểu nhiều, biết em vẫn luôn nghĩ và nhớ tới anh, anh cảm động lắm thế mà nhiều lúc anh cứ tưởng Ngọc quên anh rồi đấy, vì anh đã gửi cho Ngọc những 3 thư rồi còn gì...”.
Sau này khi đã thân nhau hơn, rồi yêu nhau, Phạm Ngọc Khánh vẫn thường xuyên viết thư cho Ngọc với những suy tư của anh về con người, về đất nước trong chiến tranh và mong muốn người yêu của mình luôn tiến bộ trong công tác:
“6-9-1967: Em Ngọc! Nghe anh Ngọc nhé. Không được buồn nản mà phải phấn khởi yên tâm công tác. Em đừng nghĩ rằng đây là lời nói của một cán bộ quân đội, của một “Bôn-sê-vích” mà là lời khuyên của Khánh, người yêu em, người chồng chưa cưới của em”.
Luôn luôn nhớ người yêu mặc dù công việc huấn luyện chiến đấu rất bận rộn như anh viết trong bức thư đề ngày 13-10-1967: “Anh dạo này bận rộn vô cùng Ngọc ạ. Khóa học đã khai mạc gần tháng nay rồi. Đêm viết giáo án, ngày huấn luyện chẳng có lấy một chút nào rỗi cả… Mấy hôm nay bị ho nhiều ghê, có lẽ vì nói nhiều. Ngọc tính có ngày 8 tiếng liền vừa nói vừa làm động tác ở thao trường còn gì nữa…”.
Trong bức thư đề ngày 20-12-1967, Phạm Ngọc Khánh hướng dẫn tỉ mỉ cho Ngọc cách làm lý lịch để đơn vị… duyệt cho anh cưới vợ. Với tất cả sự hồi hộp và sung sướng, anh nóng lòng hoàn thành công việc huấn luyện để đến ngày 25-1-1968 anh xin nghỉ phép để làm lễ thành hôn. Nhưng niềm vui chưa đến thì đơn vị anh được điều động vào Nam chiến đấu:
“19-1-1968: Ngọc thương yêu! 25 Tết rồi, bây giờ anh đang ở đất Thanh Hóa em ạ. Rồi đây cuộc sống sẽ gian khổ gấp bội, đói rét mệt nhọc, mất ngủ chắc cũng đang chờ đợi những chiến sĩ này đây. Nhưng Ngọc ơi cứ tin rằng anh của em sẽ vượt qua được hết.
Có tin không Ngọc? Mong rằng em hãy tin như lòng tin sẵn có trong con người em, tâm hồn em. Ra đi ai chẳng có bịn rịn, nhớ nhung Ngọc nhỉ, nhất là với chúng ta khi tình yêu đang ở mức độ thắm nồng nhưng biết làm sao khi Tổ quốc đang cần, khi nhiệm vụ đã đến… Chờ ngày chiến thắng anh sẽ trở về và lúc đó cũng sẽ là ngày vui nhất của chúng ta em nhỉ!”.
Dọc đường hành quân, Phạm Ngọc Khánh đều viết thư cho người yêu. Anh kể về vùng đất Hà Tĩnh, Quảng Bình nơi anh đi qua với người dân “thật thà, chất phác, yêu quý bộ đội như con”; về đường ra tiền tuyến gian nan vất vả nhưng đông vui như trẩy hội với một quyết tâm không gì lay chuyển: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Từ đất bạn Lào, anh viết: “Đất lửa 21-5-1968: Em thương yêu! Phải nói là những ngày qua nhiều lúc anh đã phải đi bằng đầu, đi bằng tất cả sức lực, bằng lòng quyết tâm cũng như chí căm thù của mình. Những lúc khốn khổ ấy chỉ muốn nhanh đến chiến trường băm vằm bọn Mỹ ngay thôi. Nhớ em, thương mẹ, anh mong sao người ở lại bình yên mạnh khỏe, còn anh hứa với mẹ và em dù khó khăn đến mấy cũng không sờn lòng nản chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao”. Thư anh nhờ một diễn viên trong đoàn cải lương Quyết Tiến của Thái Nguyên vừa phục vụ ở chiến trường đang trên đường ra Bắc đưa đến cho Ngọc. Nhưng thư chưa đến tay người yêu thì ngày 28-6-1968, trong một trận đánh ở Khe Sanh, Phạm Ngọc Khánh đã anh dũng hy sinh… 44 năm đã trôi qua. Chị Dương Thị Ngọc giờ đã có gia đình riêng yên ấm, hạnh phúc. Hài cốt của Anh hùng-liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh cũng đã được đưa về an táng tại quê nhà. Mỗi năm đến ngày giỗ anh, chị lại về Hải Dương thắp hương trước mộ anh, đứng bên con đường mang tên Phạm Ngọc Khánh mà lòng trào lên nỗi thương nhớ khôn nguôi.





