Bài viết

THỦ TRƯỞNG TÔI ĐẠI TÁ TRẦN TƯ DỊ

Bất kỳ ai tiếp xúc với ông lần đầu, cũng đều bắt gặp khuôn mặt hiền lành, cởi mở, và giọng nói của miền cát trắng Mũi Né rõ từ, nhẹ nhàng, ấm áp, tưởng như cái tuổi 88 ở ông còn đang xa xa... Ấy là đại tá Trần Tư Dị, người được nhiều sĩ quan cấp Tiểu đoàn, Đại đội chiến trường Tây Nguyên ngày đó (1973 - 1975) gọi với cái tên thân mật: Thủ trưởng “thầy”! Thủ trưởng “bố”!.

Lào Cai02/12/2025Hà Lâm Kỳ (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tình hình chiến trường Đông Dương thay đổi. Ngay đầu năm 1974 Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (còn gọi là Mặt trận B3) kiện toàn cơ sở bồi dưỡng cán bộ lấy bí danh là T.HC (Trường Hậu cần). Thượng uý Trần Tư Dị được điều về phụ trách T.HC trên cương vị Tiểu đoàn trưởng. Tôi đang là y tá Quân y Viện 211 được Trung tá chính ủy Tiêu Văn Mẫn([1]) giao quyết định điều động về T.HC vừa làm Quân y, vừa làm công vụ cho chỉ huy Tiểu đoàn. Những ngày cuối năm 1974 sang đầu 1975, không khí ở Tây Nguyên sôi động. Cán bộ các cấp từ các đơn vị cánh Bắc, cánh Trung, cánh Nam, về T.HC tập huấn, an dưỡng ngắn ngày rồi trở lại đơn vị. Tiểu đoàn trưởng Trần Tư Dị thân mật trò chuyện, ông hỏi han tình hình “phía trước” (thuật ngữ, chỉ nơi trực tiếp giao tranh), nơi đã giải phóng: Đắc Tô, Ngọc Hồi, Ngọc Bờ Biêng... những điểm đất ông từng tham dự trong các trận đánh. Chiều đó, chỉ huy tiểu đoàn được gọi lên gặp thiếu tá Nguyễn Phong chính ủy Phòng Hậu cần. Thủ trưởng Phong giao nhiệm vụ:

- Lớp tập huấn cho cán bộ Hậu cần mặt trận lần này có thể nói là rất quan trọng. Cục chính trị đã chỉ thị cho Phòng, trách nhiệm cao với các sĩ quan khối Hậu cần cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tương đương. Vì thế, nếu không chắc chắn về tư tưởng không chắc tay về hành động. Anh làm được không, anh Dị ?

- Thưa thủ trưởng. Về phương diện quản lý, tổ chức thực hiện thì chắc chắn, nhưng còn..

- Còn gì ? Nói luôn ! Thiếu tá Phong ngước mắt nhìn chăm chú chờ nghe.

Thượng uý Dị cười nhẹ.

- Còn “Binh pháp” ạ !

Chính ủy Phong:

- Đúng. Binh pháp Hậu cần có cái khó, nhưng qua nhiều chiến dịch rồi, các chỉ huy về đây, mỗi người đã có một kinh nghiệm, một bài học. Ngoài việc lên lớp, truyền đạt, tiếp nhận lý luận về tư tưởng, thì toạ đàm là cách hay nhất để tìm ra biện pháp. Việc này không có trong giáo án đâu mà “tê” của ta phải làm.

- Vâng, thưa anh. Chúng tôi sẽ suy nghĩ và đề xuất chương trình. Tư Dị đáp.

- Tôi sẽ luôn ở bên thời gian tập huấn, lớp hậu cần, cả lớp chính trị nữa. Nhưng người suy nghĩ, tổ chức thực hành, Phải là anh, Tư Dị nhé.

Ngay ngày hôm sau, theo đề nghị của Chính ủy Phong, Cục tham mưu Mặt trận cử một Thượng uý, chuyên gia tổng hợp tác chiến, xuống T.HC giúp sức. Thế là chương trình bồi dưỡng được điều chỉnh theo hướng chuyển từ 50 lên 70% thời gian dành cho thực hành (mà nay gọi là ximina). Các học viên tự đặt ra các tình huống phức tạp và giải pháp xử lý nhanh, xử lý chắc, ít tổn thất nhất.

*

Một trưa, Đại tá Đặng Vũ Hiệp Chính ủy Mặt trận bất ngờ đến thăm khóa tập huấn. Tôi, với tư cách công vụ, pha gói chè ngon mà một học viên vừa biếu anh Tư Dị có tên “Trà thượng hạng cao nguyên Trung phần”. Pha nước xong, tôi ngồi lui ra chiếc ghế tre đặt ngoài hiên nhà. Chính ủy Hiệp cầm hộp chè, nhìn nhìn rồi hỏi:

- Sao có được chè này?

- Thưa thủ trưởng. Chiến lợi phẩm từ Gia Lai. Ta mới đánh cao nguyên, bọn địch vội biếu rồi bỏ chạy.

Chính ủy Hiệp cười.

- Phải nói là, ta chưa đánh, địch đã bỏ chạy, ta thu được chiến lợi phẩm.

Tư Dị nói nhanh.

- Vâng, thưa Chính ủy. Tôi xin cải chính lời mình, là: Ta đánh trúng mắt cao nguyên, địch bỏ chạy khỏi “Trung phần”.

Các sỹ quan tháp tùng ngồi uống trà cười vang cả lán rừng le ([2]).

Không biết lời Đoàn trưởng Tư Dị có thiêng không mà chỉ tám tháng sau, tháng 3 năm 1975, ta điểm huyệt Buôn Mê Thuật, khai hỏa chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cho cuộc Tổng tiến công Mùa xuân, khiến cho Quân đoàn II Nguỵ đóng ở Plây Cu, phải bỏ cả Tây Nguyên tháo chạy và nhanh chóng tan rã.

*

Cục Chính trị triệu tập lớp bồi dưỡng cộng tác viên tại T.HC, giao cho nhà báo Nguyễn Khắc Quán, Tổng biên tập báo Tây Nguyên (Tờ báo của Mặt trận) trực tiếp chỉ đạo, nhà báo Nguyễn Văn Công phụ trách (anh Công, người Y Can, Trấn Yên, Yên Bái, sau này anh về Ban thư ký báo Hoàng Liên Sơn). Lớp viết báo có khoảng 20 người, đều rất trẻ. Tôi được thủ trưởng Dị cử đi học. Do tại chỗ, nên vừa là học viên, vừa làm lớp phó. “Thầy” Công lại là đồng hương, mọi điều kiện rất suôn sẻ. Các cộng tác viên gọi Tổng biên tập Nguyễn Khắc Quán và Thủ trưởng Trần Tư Dị là thầy, có bạn gọi “Bố Dị”. Thật chân tình, yêu thương. Lớp học dự kiến một tháng, do tình hình chiến trường phát triển nhanh nên rút xuống chỉ còn mười lăm ngày. Kết thúc, nộp bài “thi”, tôi có bài thơ “Vào mùa” theo kiểu ca dao được chọn đăng trên Báo Tây Nguyên: Mùa mưa, hai đứa, hai nơi/ Mùa khô, hai đứa, hai trời, xa nhau/ Vào mùa, cùng một ước ao/ Được đi chiến dịch, được vào tung thâm !/ Thủ trưởng Dị nói với Chính ủy Phong: - Y tá Kỳ nó học văn, nên thơ nó cũng có tính động viên khích lệ tốt.

Thủ trưởng Phong nhìn tôi cười cười: - Có cả tính dự báo nữa đấy !

Không rõ cấp trên nói thế, nghĩa là sao. Chỉ biết rằng, đầu tháng 2/1975, Bài thơ được in lại trên trang 1 Báo Tây Nguyên với tiêu đề mới: “Ước ao”, thì ngày 4 tháng 3 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên được lệnh nổ súng.

*

Tháng 4/1974 chuẩn bị cho 20 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn trưởng Tư Dị nói với tôi:

- Chú học văn (Tôi đang là sinh viên khoa Văn, nhập ngũ), nghĩ cách làm cái loa truyền thanh! Phải nối dây khắp khu đồi chen chúc cây rừng Xăng rẻ, cơ nia, lồ ô... là điều khó làm, lại thêm đấu dây thu qua chiếc xiêng mao của Ban chính trị, rồi viết tin truyền thanh, và... đọc. Tất tần tật việc ấy, Tiểu đoàn trưởng giao, không thể từ chối. Mày mò, rồi cũng đến buổi “khai trương”. Bài “phát sóng” đầu tiên sau câu “alô, alô”... là giọng đọc bất đắc dĩ của tôi, bài thơ Sáng tháng năm của nhà thơ Tố Hữu. Đúng 10giờ đêm ngày 7 tháng 5, bài “Chín năm làm một Điện Biên” của Thủ trưởng Trần Tư Dị do tôi chắp bút, phát trên loa truyền thanh giữa khu rừng già, bài ngắn, mà cảm xúc. Sau đây lại vẫn là giọng đọc bất đắc dĩ khá trôi chảy, bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên mà tôi thuộc ngày sinh viên Văn khoa đại học sư phạm Việt Bắc. Học viên, là sỹ quan Chính trị, Hậu cần các lớp tập huấn, nằm rải rác trong các mái nhà lợp máng tre lồ ô dưới tán cây cơ nia, yên lặng lắng nghe.

Mấy ngày sau Thủ trưởng Dị nói vui: -“Đài mình dại quá, lại đi phát sau chương trình của Trung ương (Hà Nội) nên nó nhạt !”.

Tôi khẽ đáp: - Thủ trưởng ơi, mình là loa rừng, lại giữa chiến trường, nhạt mà thật ạ.

Thủ trưởng Dị cười to vỗ vai động viên, giọng miền biển Phan Thiết pha chút Đông Nam bộ:

- Chu cha, thế mà học viên tụi nó bảo hay quá ha!

*

Một tối sáng trăng, Đoàn trường Tư Dị ngồi trò chuyện với Đại úy Hoàng Tanh, tại hiên nhà phòng ngủ dành cho chỉ huy. Tôi loanh quanh gần đó. Bỗng một con rắn cạp nong chạy qua chân Hoàng Tanh chui vào vách hầm chữ A. Con rắn bị kẹt. Các chỉ huy hoảng hốt tìm cây đập, tôi bước nhanh lại, nhìn rõ đuôi con cạp nong còn thò dài, tôi kêu to:

- Các thủ trưởng tránh ra.

Nói đoạn, liền cầm khúc đuôi rắn giật mạnh ba giật rồi kéo lùi. Học viên túm lại. Con cạp nong bị đánh ba khúc, nằm giẫy giẫy, mà không bò được. Thủ trưởng Dị nói vui:

- Mình mười năm ở rừng Tây Nguyên, nhưng đây là lần đầu đánh rắn ba khúc.

Tháng 2/1998, tôi đi Trại viết văn tại Lạng Sơn, gặp lại anh Hoàng Tanh, lúc này đương kim Bí thư Tỉnh ủy. Anh mời đến nhà ăn cơm với gia đình, cùng nhau kể lại chuyện xưa. Bí thư Hoàng Tanh nói:

- Hôm đấy, Tư Dị cười bảo: Biệt kích, thám báo, không sợ, mà sợ con rắn, vì nó bất ngờ luồn dưới chân. Mình nói thêm, nếu dẫm phải, nó sẽ đớp, còn không, nó chạy.

*

Sáng hôm đó, tôi đưa một bệnh nhân là học viên đi Quân y Viện 211. Bệnh nhân sốt rét đã qua cơn ác tính nên có thể đi bộ không cần người đi cáng. Dọc đường ghé vào Trạm 4 (cùng thuộc Phòng Hậu cần) nghỉ chân. Trạm chỉ có chiến sĩ nuôi quân Trần Thiện Lợi (quê Hải Dương) ở nhà, anh em uống chén nước ít phút rồi đi tiếp. Trước khi đi, thủ trưởng Dị dặn: Học viên là thương binh, nếu dọc đường gặp tình huống bất ngờ, Kỳ chủ động xử lý. Tôi vâng. Khi rời khỏi Trạm 4 khoảng nửa cây số thì hai chiếc AD6 lượn vòng rồi bất ngờ quay lại trút sáu bẩy quả bom. Trạm 4 và một mình Trần Thiện Lợi hứng chịu cả túi bom ác nghiệt. Mười hai giờ, thương binh Hải lại lên cơn sốt, tôi tiêm ống trợ sức. Phải khoảng mười cây số đường rừng nữa mới tới viện, hai anh em nghỉ bên một gốc cây ăn tạm. Có ba người lính quần áo Khơme cầm súng đi ngược chiều. Tôi thò tay gẩy cò khẩu AK.

- Bộ đội Việt Nam đi đâu?

- Đi về đơn vị !

- Đơn vị gần không ?

- Ngay gần đây thôi. Mà chúng mày hỏi, cần gì?

- Cần gì à? Bộ đội Việt Nam mày không ưa gì Khơme chúng tao. Một tên da ngăm đen, giọng lơ lớ, ngọng ngọng, nói như hăm dọa.

Tôi mềm mỏng.

- Không phải thế đâu, nếu có, chỉ mấy thằng đảo ngũ nó tung tin thôi. Chúng tao đây, vẫn quý người Khơ Me và bộ đội Khơme như anh em mà.

Tên đứng cạnh xem có vẻ là trưởng nhóm giục.

- Thôi, đi !

Quả thật, tôi và Hải hú vía, chỉ sợ chúng quay lại, bắt cóc, việc bắt cóc bộ đội Việt Nam đòi chuộc đã nhiều lần xảy ra ở dọc biên giới Tây Nguyên - Campuchia. Nhưng đi đoạn, không thấy gì. Chắc bọn này sợ cái đơn vị “Ngay gần đây thôi” mà tôi bịa ra.

Tối đó, tôi báo cáo tình hình với thủ trưởng Dị, anh nói:

- Vậy là chú thoát cả hai trong gang tấc. Lợi hi sinh rồi. Còn mấy thằng kia là quân Pôn Pốt, chú đã khéo lừa được nó.

Lớp học tháng 11 năm 1974 kết thúc sớm một tuần. Các lớp tiếp theo trong tháng 12 năm đấy cũng được thông báo hủy, không rõ lý do. Thay vào đó là một Hội nghị bất thường diễn ra trong ba ngày đầu tháng. Mọi sự chuẩn bị đều do Phòng Hậu cần lo liệu. T.HC chỉ phục vụ chỗ nghỉ. Thủ trưởng Dị quán triệt trước toàn đơn vị, đây là cuộc hội thảo quan trọng của trên. Trước ngày khai mạc, mấy xe tải chở lương thực, thực phẩm, bát đũa, ấm chén, chăn màn, cả máy phát điện, loa đài công suất nhỏ tới. Bộ phận “Anh nuôi” cũng được đổi người. Rồi một Trung đội vệ binh trên Cục tham mưu xuống căng tăng mắc võng quanh đồi cây. Tổ quân y do y sĩ Minh phụ trách. Tôi được chỉ định tham gia tổ công vụ. Địa điểm “Hội thảo” là Hội trường lớn dưới tán lá hai cây cơ nia cổ thụ, xanh mướt. Gọi là hội trường, có tới 200 người ngồi, nhưng ghế là hai cây lồ ô ghép lại, tạo nên bốn hàng chạy dọc hội trường. Mái lợp bằng mảnh lồ ô bổ đôi úp ghép, bốn bề không phân vách. Hai tiểu đội vệ binh túc trực vòng trong vòng ngoài.

Sự kiện ít có, ai cũng biết vậy nhưng không được phép tò mò,?. Phải đến sau tết Nguyên đán năm đó tôi mới được Thủ trưởng Tư Dị cho biết ta đang chuẩn bị đánh to, và giao việc: chuẩn bị một lượng nước cất lớn để đưa ra phía trước !

Lượng nước cất lớn? Tôi băn khoăn, có ý hỏi lại. Thủ trưởng khẽ đưa hàm về phía trước.

- Cái sáng kiến mà năm trước Kỳ làm đấy, được Quân y Viện 211 cho báo cáo tại Hội nghị khoa học, giờ chú tập trung làm tiếp, và làm gấp, Đoàn (T.HC) sẽ mời Ban quân y giám định chất lượng.

Tôi không bất ngờ vì ý tưởng của mình, nhưng phải có sự đầu tư phương tiện và vật liệu lỏng khác. Nghe đề xuất trên, Đoàn trưởng Trần Tư Dị trực tiếp làm việc với ĐT25 (Đội điều trị 25) xin hỗ trợ. Và thế là chỉ sau một tháng, những chai nước lọc của tôi, đảm bảo 95 - 98 % vô trùng, được phép đóng nút đưa ra tuyến 1 sử dụng sơ cứu thương binh.

Sau chiến dịch Tây Nguyên, tôi được công nhận là Chiến sĩ thi đua của Cục Hậu cần mặt trận, và sau ngày giải phóng Sài Gòn được chọn đi dự Đại hội mừng công toàn Quân đoàn 3 (Mặt trận Tây Nguyên) Tổ chức ngay tại thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương. Đó cũng là hôm công bố phong tặng Danh hiệu Anh hùng cho Đoàn Sinh Hưởng, Nguyễn Đình Kiệp, Nguyễn Vị Hợi…

*

Tháng 7 năm 1975 Quân đoàn 3 (Trước đó có tên: Mặt trận Tây Nguyên rồi Binh đoàn Tây Nguyên, hay còn gọi là Mặt trận B3) về đóng tại thị xã Thủ Dầu Một (Tỉnh Bình Dương ngày nay). T.HC được chính thức gọi là Trường Hậu cần Quân đoàn III. Lúc này có thêm Chính trị viên Nguyễn Hồ, người quê Quảng Nam. Tiểu đoàn trưởng Tư Dị đã gần U40, vẫn chưa vợ. Tôi làm Bí thư Chi đoàn. Một chiều, sau bữa cơm ngồi hóng mát ngoài hiên nhà, tôi mạo muội.

- Thủ trưởng ơi, thủ trưởng “kiếm” cô nào đi, thanh niên chúng em lo phục vụ!

Anh Dương Châm, trợ lý chính trị, và anh Phạm Trâm trợ lý Hậu cần đưa vào. Chính trị viên Nguyễn Hồ tủm tỉm.

- Tụi bay nói chi. Tư Dị sắp cưới rồi đó!

Mấy anh em trong đó có cả Tiểu đoàn phó Nguyễn Tuyết ngơ ngác không hiểu chính trị viên nói thật hay đùa.

Hóa ra thật.

Trong một cuộc Trần Tư Dị xuống dân làm dân vận tại xã Tân An mới giải phóng, chị Hội trưởng phụ nữ xã, biết anh chưa có gia đình, lại luống tuổi liền rỉ tai rồi kéo anh đến “dân vận” gia đình bác Ba Tranh. Chỉ sau mười ngày bác Ba Tranh khâu nối thành công cô cháu gái mình cho Tư Dị. Đúng dịp này cấp trên rục rịch điều Chính trị viên Nguyễn Hồ đi Phú Quốc, Trần Tư Dị sẽ chuyển về Sài Gòn. Thế là cuộc tình “chưa chín” vẫn được đẩy lên. Đám cưới của một sĩ quan Quân giải phóng Cục Hậu cần QĐ3 đầu tiên ở thị xã Thủ Dầu Một được Hội phụ nữ xã Tân An lo liệu tại gia đình khá đơn giản, chu đáo, ấm áp. Chưa hết tuần trăng mật, Đại úy Trần Tư Dị và thượng úy Nguyễn Hồ rời Cục Hậu cần Quân đoàn, nơi hai ông gắn bó nhiều năm sau ngày ký Hiệp định Paris lên đường nhận nhiệm vụ mới.

Hôm nay, khi viết những dòng này, Thủ trưởng tôi đại tá Trần Tư Dị đã bước vào tuổi 90, ông bà về an nhàn ở quê hương Mũi Né Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Từ ngày thầy trò chia tay (tháng 8/1975) tôi vào Sài Gòn thăm ông bà được hai lần. Còn quê ông nơi này vùng biển Mũi Né tuyệt vời thì tôi chưa thể tới mặc dù ông bà và con cháu mong ngóng. Đường đất xa xôi, đành trò chuyện với ông Thủ trưởng Trần Tư Dị thân mật một thời, trên chiếc điện thoại di động. Ôi, ký ức chiến tranh mà đành cầm lòng vậy.


([1])Năm 1974, Ông là Phó chính ủy Binh đoàn Tây Nguyên. Anh hùng LLVT. Ông được phong hàm Trung tướng. Năm 2012 Trung tướng Tiêu Văn Mẫn lên Yên Bái có đến gia đình tôi thăm người y tá quân y của ông năm xưa, gặp lại Thủ trưởng ngày chiến trường. Tràn ngập hạnh phúc tình nghĩa. ([2]) Cây le, giống như cây giang, nhưng vươn cao thành nhiều bụi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn