Bài viết

THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG: NHÀ CHÍNH TRỊ LỖI LẠC

Hưng Yên13/08/2026Phường Quyết Thắng (Phường Quyết Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (bí danh là ) sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình công chức. Ông mất ngày 29 tháng 4 năm 2000 tại Hà Nội. Đồng chí Phạm Văn Đồng được biết đến là người học trò xuất sắc, người đồng chí thân thiết và là một trong những cộng sự gần gũi nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng.

Con đường cách mạng của ông bắt đầu rất sớm. Năm 1925, khi mới 19 tuổi, ông đã tích cực tham gia cuộc biểu tình bãi khóa của học sinh đòi thực dân Pháp ân xá cho cụ Phan Chu Trinh. Đến năm 1926, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham dự lớp huấn luyện cán bộ do đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo. Cuối năm 1927, ông trở về Sài Gòn hoạt động cách mạng, được cử vào Kỳ bộ Thanh niên Nam Kỳ và sau đó tham gia Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 3 năm 1929, ông sang Hong Kong dự Đại hội của Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Tháng 7 năm 1929, thực dân Pháp bắt giữ Phạm Văn Đồng, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Trong suốt 7 năm giam cầm khắc nghiệt (từ tháng 7/1929 đến tháng 7/1936), ông vẫn giữ vững tinh thần kiên trung của người chiến sĩ cách mạng. Tháng 7 năm 1936, nhờ thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp chống phát xít, ông được trả tự do, trở về Hà Nội tiếp tục hoạt động công khai.

Tháng 5 năm 1940, Phạm Văn Đồng sang Côn Minh (Trung Quốc) gặp lại Nguyễn Ái Quốc và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, ông cùng Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước xây dựng căn cứ cách mạng ở vùng Cao - Bắc - Lạng. Vào tháng 8 năm 1945, ông tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc và giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.


2. Sự nghiệp ngoại giao kiệt xuất: Người giữ nhịp qua ba cuộc đàm phán lịch sử

Trong lịch sử ngoại giao hiện đại, đồng chí Phạm Văn Đồng là nhà ngoại giao xuất sắc hàng đầu, trực tiếp tham gia và có đóng góp to lớn vào ba cuộc đàm phán bản lề của đất nước: Fontainebleau (1946), Genève (1954)Paris (1968-1973).

  • Hội nghị Fontainebleau (1946) – Bản lĩnh trước thử thách đầu tiên: Tháng 6 năm 1946, ông giữ cương vị Trưởng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Chính phủ Pháp tại lâu đài Fontainebleau. Tại đây, phái đoàn Việt Nam kiên quyết bảo vệ độc lập chính trị và sự thống nhất của Nam Bộ. Với phong cách "nhân nhượng có nguyên tắc", khi phía Pháp né tránh việc trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ, ông và phái đoàn kiên quyết rời hội nghị vào ngày 13 tháng 9 năm 1946. Quyết định lịch sử này không những bảo vệ chủ quyền quốc gia mà còn tạo áp lực đạo lý mạnh mẽ, gián tiếp định hình việc ký kết Tạm ước 14/9 để Việt Nam chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến lâu dài.

  • Hội nghị Genève (1954) – Thắng lợi pháp lý quốc tế: Tháng 5 năm 1954, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Phạm Văn Đồng giữ vai trò Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ tham dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Suốt 75 ngày đàm phán khốc liệt trước sự ép đặt của các nước lớn, ông kiên định nguyên tắc hòa bình phải đi liền với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Áp dụng triệt để phương châm "giữ vững cái bất biến, ứng xử vạn biến", ông đã góp phần đưa đến việc ký kết Hiệp định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, chính thức buộc các cường quốc công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương.

  • Hội nghị Paris (1968-1973) – Người nhạc trưởng hậu trường: Tuy không trực tiếp đàm phán tại Paris, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, Phạm Văn Đồng là "nhạc trưởng chính trị" định hình chiến lược đàm phán. Năm 1965, ông thay mặt Chính phủ công bố Lập trường bốn điểm, làm cơ sở nguyên tắc cho mọi giải pháp thương lượng. Với tư duy sắc bén kết hợp chặt chẽ giữa "đánh và đàm", ông chỉ đạo nhịp nhàng giữa chiến trường và bàn ngoại giao, khéo léo xử lý quan hệ đối ngoại với Liên Xô, Trung Quốc để tranh thủ tối đa sự ủng hộ quốc tế mà vẫn giữ vững tính độc lập, tự chủ của Việt Nam, đưa đến thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973.


  • 3. Nhà lãnh đạo kinh tế giàu kinh nghiệm và Người suốt đời tận tụy với sự nghiệp Giáo dục

    Bên cạnh tài năng đối ngoại, đồng chí Phạm Văn Đồng còn là nhà lãnh đạo kinh tế xuất sắc. Từ tháng 9 năm 1955, ông được Quốc hội cử làm Thủ tướng Chính phủ và giữ cương vị này liên tục cho đến năm 1987. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng tập thể Trung ương Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc thành "hậu phương lớn" vững chắc, kiên trì chỉ đạo vừa sản xuất vừa chiến đấu để chi viện đầy đủ sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam giải phóng hoàn toàn đất nước.

    Đồng thời, Phạm Văn Đồng là người đặc biệt tâm huyết với giáo dục, luôn coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc". Trong những năm 70 của thế kỷ XX, ông trực tiếp đảm nhận cương vị Chủ tịch Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương. Ông để lại hai tác phẩm lý luận giáo dục có giá trị sâu sắc: “Mấy vấn đề về văn hóa giáo dục”“Về vấn đề giáo dục - đào tạo”.

    Ông đề cao vai trò, trách nhiệm cao quý của người thầy và đề ra chỉ thị hành động nổi tiếng từ năm 1981 nhằm chấn hưng giáo dục: “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học”. Cho đến những ngày cuối đời, ông vẫn dành toàn bộ tâm sức trăn trở về đổi mới phương pháp giảng dạy, khơi dậy kho báu tư duy của học sinh.


    4. Tấm gương đạo đức trong sáng, nhân cách lớn của thời đại

    Thủ tướng Phạm Văn Đồng là mẫu hình nhà ngoại giao hội tụ cả ba giá trị: chiến lược, chiến thuật và nhân văn. Ông sống một cuộc đời vô cùng giản dị, thanh bạch, tao nhã và gần gũi với quần chúng nhân dân. Là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã dành nhiều tâm sức để nghiên cứu sâu sắc về đạo đức, tác phong của Bác và viết 4 cuốn sách cùng 16 tác phẩm chuyên đề có tầm ảnh hưởng lớn về Người.

    Từ tháng 12 năm 1986 đến năm 1997, ông giữ cương vị Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngay cả sau khi kết thúc nhiệm vụ Cố vấn, cho đến khi qua đời vào năm 2000, ông vẫn tiếp tục làm việc, đóng góp nhiều ý kiến hệ trọng cho Đảng, Nhà nước và đặc biệt trăn trở với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cùng nền văn hóa dân tộc.

    Ghi nhận những cống hiến vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã trao tặng đồng chí Phạm Văn Đồng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng cùng nhiều Huân, Huy chương cao quý khác trong nước và quốc tế. Ông mãi mãi là tấm gương chói lọi về đạo đức, nhân cách và trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn