Bài viết

Thực hành dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta hệ thống tư tưởng lý luận có giá trị to lớn, trong đó có vấn đề thực hành dân chủ trong Đảng. Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, việc quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng để góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

06/08/2026Xã Tân Kỳ (Đoàn xã Tân Kỳ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động. Điều này được Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần khẳng định, xem tư tưởng Hồ Chí Minh như “ngọn đuốc soi đường, đưa cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích”(1). Đặc biệt, trong bài phát biểu định hướng tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2024, triển khai công tác năm 2025 của Chính phủ và chính quyền địa phương, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân “trên nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và trong sạch”; đồng thời, khẳng định “cán bộ, đảng viên phải gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”(2).

Những quan điểm nêu trên của người đứng đầu Đảng ta cho thấy, muốn củng cố và nâng cao sức mạnh của Đảng, trước hết cần thực hành và phát huy dân chủ từ trong Đảng; đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển vươn mình, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, việc làm rõ nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng

Trên hành trình tìm đường cứu nước và với tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ giá trị của dân chủ và mục đích phải hiện thực hóa giá trị dân chủ tại Việt Nam. Theo Người, mục đích của thực hành dân chủ là “để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”(3); vai trò của thực hành dân chủ là giúp việc khó hóa dễ, “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(4); cách thức thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh”(5).

Trong lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thực hành dân chủ trong Đảng là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh và được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, thực hành dân chủ trong công tác lập kế hoạch, xây dựng chủ trương, đường lối.

Trong công tác lập kế hoạch, xây dựng và triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, yêu cầu quan trọng là cần thông tin, bàn bạc với đảng viên và quần chúng nhân dân để thâu thái được nhiều ý kiến đóng góp; qua đó, đi đến quyết định, lựa chọn tốt nhất. Người chỉ rõ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ là các đảng viên có quyền thảo luận chính sách của Đảng, rồi tập trung ý kiến lên Trung ương, còn dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung là vì nếu cái gì không nên bàn cũng cứ bàn ắt hỏng, cái gì đã bàn rồi thì phải đưa lên. Khi bên trên ra lệnh thì bên dưới phải thi hành, phải tuân theo. Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn,... càng dân chủ thì càng phải tập trung”(6).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”(7). Có lãnh đạo tập thể mới huy động được trí tuệ, tri thức, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, cách thức, bước đi đúng hướng, đạt hiệu quả tối đa. Trái lại, “lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái lệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc”. Còn phụ trách phải do cá nhân đảm nhiệm thì công việc mới đạt kết quả cao. Nếu “phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”(8). Vì vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các khâu thực hành dân chủ trong Đảng.

Hơn nữa, trong công tác triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng khâu kiểm tra, giám sát. Người coi đây là một trong những nội dung cốt yếu của thực hành dân chủ trong Đảng và nâng lên thành một trong những phong cách lãnh đạo dân chủ.

Thứ hai, tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ trong Đảng.

Về cơ bản, thực hành dân chủ trong Đảng không thể thiếu việc tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ ở người cán bộ, đảng viên. Phong cách lãnh đạo dân chủ của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở việc luôn lắng nghe ý kiến của tập thể, của nhân dân. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, phải tôn trọng, lắng nghe và chịu sự kiểm tra của cấp dưới, của quần chúng nhân dân. Không chỉ thảo luận một cách dân chủ trong nội bộ đảng viên, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng”(9).

Người lãnh đạo, quản lý phải bàn bạc, liên hệ chặt chẽ với cấp dưới và quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải thích điều nhân dân chưa hiểu để có quyết sách phù hợp với lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Có như vậy, chủ trương, đường lối của Đảng mới phù hợp với lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, mới thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Do vậy, muốn thực hiện phong cách lãnh đạo dân chủ một cách thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”. Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”(10).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là phải khéo kiểm soát để bao nhiêu khuyết điểm bộc lộ ra hết và dần dần sẽ bớt đi. Tuy nhiên, để kiểm soát đạt kết quả tốt, cần thực hiện theo hai cách: “Một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình. Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó”(11). Nếu không được giám sát chặt chẽ thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý rất dễ rơi vào tha hóa, lạm quyền, lộng quyền và cuối cùng trở nên độc đoán, độc tài. Điều này làm giảm sút tính chiến đấu của tổ chức đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị, đặc biệt là sẽ làm mất đi niềm tin của nhân dân. Tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ sẽ khuyến khích tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên; qua đó, tăng cường sự trong sạch, văn minh trong Đảng.

Thứ ba, thực hành dân chủ trong cách thức sinh hoạt đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của việc thực hiện nền nếp nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Theo Người, trong Đảng không tránh khỏi khuyết điểm, nhưng một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Vì vậy, chỉ có “thang thuốc” hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình với mục đích là cho mọi người học hỏi ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm - đó chính là cách thức sinh hoạt đảng hữu hiệu.

Không dễ để phê bình, người bị phê bình có thể không chấp nhận ý kiến nhận xét, đánh giá về mình. Người phê bình có thể chịu thái độ thù địch hoặc oán giận; có thể không thấy lợi ích gì mà chỉ thấy mất đoàn kết; hoặc cũng có khi do động cơ cá nhân mà dùng lời cay nghiệt để làm tổn thương người bị phê bình. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, phê bình phải triệt để, trung thực, không phóng đại, không giảm bớt. Người phê bình phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm, phê việc chứ không phê người, tránh nói lời cay độc, phải giúp đỡ nhau khắc phục lỗi lầm; còn người bị phê bình phải chấp nhận việc phê bình để sửa chữa, không nản lòng, thù hận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng quyền được nêu ý kiến trong sinh hoạt đảng. Người căn dặn, phải thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng để bảo đảm quyền làm chủ, khuyến khích tính chủ động, tâm huyết của đảng viên, làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Cần khuyến khích đảng viên phát biểu ý kiến, thực hiện phê bình và tự phê bình một cách thiết thực; qua đó, nâng cao tính tự chủ, tính năng động, sáng tạo của đảng viên, ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong cuộc vận động xây dựng Điều lệ Đảng chuẩn bị cho Đại hội III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(12).

Để thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng thực sự hiệu quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài khuyến khích việc nêu ý kiến của cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, thì còn phải lưu ý đến thái độ, phong cách của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. Người chỉ rõ, “muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. Muốn như thế phải thực hành những điểm này: 1. Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến… Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng... Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến”(13). Như vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần đặt niềm tin vào cán bộ cấp dưới của mình, khuyến khích họ nêu ý kiến, làm cho họ thấy rõ lợi ích thiết thực từ những gì họ đang tham gia đóng góp.

Thứ tư, thực hành dân chủ trong công tác tổ chức - cán bộ.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ. Người nhiều lần nhấn mạnh, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(14). Chính vì vai trò quan trọng của công tác tổ chức - cán bộ, mà ngay từ khâu lựa chọn kết nạp đảng viên mới, Người nhấn mạnh phải giữ đúng điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với công tác khác; đặc biệt, phải dựa vào quần chúng nhân dân mà xem xét cẩn thận. Quần chúng nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng trong đánh giá trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, chất lượng của người đảng viên.

Trong quá trình xem xét bổ nhiệm cán bộ vào vị trí chủ chốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý cần xem người đó có gần gũi quần chúng nhân dân không, có được nhân dân tin cậy và mến phục, có hiểu dân chúng, có liên lạc mật thiết với dân chúng không?... Bởi vì quần chúng nhân dân rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng””(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm”(16). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không thể đạt kết quả tốt nếu không có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Tôn trọng góp ý của quần chúng nhân dân chính là thể hiện sự tin tưởng của Đảng đối với nhân dân; qua đó, cũng là cách thức phát huy dân chủ trong nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thực hành dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay | Câu chuyện thời hoa lửa