THƯƠNG BINH NGUYỄN VĂN QUẢNG
Khi nghe nhà trường thông báo về đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” do Ban bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động , lòng em lại trào dâng một niềm xúc động và tự hào khó tả. Phong trào ấy không chỉ nhắc nhở thế hệ học sinh chúng em về những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, mà còn là dịp để em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người anh hùng đặc biệt nhất trong cuộc đời em: ông nội Nguyễn Văn Quảng.
Ông nội em sinh năm 1949, ở thôn 4 Ninh Hiệp - xã Phù Đổng- TP Hà Nội (trước đây là thôn 9 - xã Ninh Hiệp - huyện Gia Lâm - TP Hà Nội). Nhìn vẻ ngoài hiền hậu của ông hôm nay, ít ai biết rằng ông từng là một người lính dũng cảm, đã đi qua những chiến trường ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong những bữa cơm sum vầy hoặc những lúc rảnh rỗi ông thường kể cho chúng em nghe về những câu chuyện thời xưa khi ông đi chiến đấu.
Tháng 3 năm 1967, khi vừa tròn 18 tuổi – cái tuổi đẹp nhất của đời người, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông cùng với bạn bè trang lứa gác lại những dự định riêng để khoác lên mình màu xanh áo lính. Bắt đầu quân ngũ tại đơn vị C3 - D7 - F209 - E312, ông trải qua những tháng ngày huấn luyện miệt mài trước khi xẻ dọc Trường Sơn vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam.
Trong ký ức của ông, những năm tháng "thời hoa lửa" là chuỗi ngày rực cháy lý tưởng nhưng cũng đầy gian khổ, hy sinh. Ông kể rằng có những lúc ông cùng đồng đội phải ăn đỗ xanh mốc trừ bữa cả tháng trời (món ăn mà ông vẫn sợ từ ngày ấy đến bây giờ) để bám trụ địa bàn. Có lúc ông còn bị sốt rét tưởng như không qua khỏi ngay tại chiến trường ngày ấy.
Tháng 2 năm 1968, với cấp bậc Hạ sĩ (thuộc C3 - D7 - E320 - F1), ông trực tiếp tham gia Chiến dịch Mậu Thân tại chiến trường Tây Nguyên (mặt trận B3) rực lửa. Ông cùng đồng đội đã mưu trí, táo bạo thực hiện hàng loạt trận công đồn đánh Mỹ, tiêu diệt tại chỗ 300 tên địch. Sau thất bại ấy, kẻ thù điên cuồng dội mưa bom pháo kích, bao vây đơn vị của ông suốt 25 ngày đêm liên tục trong rừng sâu. Trong 25 ngày đêm sinh tử ấy, bị cắt đứt viện trợ, ông và các đồng đội cùng phải nhịn đói, hái từng cọng rau rừng, uống từng ngụm nước suối để cầm hơi và kiên cường bám trụ trận địa cho đến khi được giải vây. Ông còn truyền lại kinh nghiệm cho chúng e là khi đi rừng mà bị đói thì chỉ ăn những lá có vị chua thì sẽ không bị độc.
Đến tháng 8 năm 1968, ông được cất nhắc làm Trung sĩ, Tiểu đội trưởng (C3 - D7 - E19 - F7), tiếp tục hành quân tham gia Chiến dịch miền Đông Nam Bộ.
Nhưng sự nghiệt ngã của chiến tranh đã ập đến vào tháng 4 năm 1970. Trong trận càn chống Mỹ - Nguỵ ở Thủ Dầu Một lực lượng vũ trang của ta giằng co quyết liệt với lực lượng biệt kích địch, ông nội em bị thương rất nặng: một viên đạn đã găm trực tiếp vào vùng mặt, làm hỏng hoàn toàn mắt bên phải và tổn thương nghiêm trọng điểm vàng mắt bên trái. Sau trận đánh ấy, ông được xác nhận là Thương binh hạng 1 (tỷ lệ thương tật 81%). Mảnh đạn kim loại năm ấy găm quá sâu nên không thể phẫu thuật lấy ra, vĩnh viễn nằm lại trong não ông cho đến tận ngày hôm nay. Theo thời gian, di chứng vết thương đã khiến ánh sáng ở con mắt còn lại của ông cũng tắt hẳn. Mỗi khi thời tiết đổi mùa, mảnh đạn cũ lại hành hạ gây ra những cơn đau nhức buốt óc.
Thế nhưng, dù đôi mắt không còn nhìn thấy gương mặt con cháu và mang trong mình thương tật nặng nề, ông nội em chưa bao giờ gục ngã hay than vãn. Trở về cuộc sống thời bình, ông vẫn giữ trọn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", sống khiêm tốn, kiên cường và ngập tràn tình yêu thương.
Với 5 năm cống hiến xương máu trong quân ngũ, ông đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vào tháng 8 năm 1988 và Huy chương chiến sĩ vẻ vang Hạng Ba vào tháng 6 năm 2013. Đối với em, ông chính là một "chứng nhân lịch sử sống động". Những câu chuyện chiến trường ông kể chắt chiu từ ký ức chính là bài học lịch sử vô giá, giúp em hiểu trọn vẹn sự thiêng liêng của hai chữ "hòa bình".
Nhìn vào những vết thương trên thân thể ông, em càng thêm trân trọng cuộc sống ấm no, tự do mà mình đang có. Em tự hứa sẽ luôn chăm ngoan, học tập thật giỏi và rèn luyện đạo đức tốt để trở thành một người cháu ngoan, xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến của ông nội và thế hệ cha anh thời hoa lửa!



