Khác

THƯƠNG NHỚ KHÔN NGUÔI - Viết về Mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Bảy

Vĩnh Long12/01/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Vĩnh Thành)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hòa Lộc là ấp có truyền thống cách mạng, là một trong những nơi nuôi giấu cán bộ hoạt động của xã Vĩnh Hòa. Đây là nơi phải chịu nhiều mất mát đau thương do chiến tranh để lại. Nơi đây, có “Một người Mẹ” đã chịu nhiều hy sinh, mất mát. Đó là Mẹ Trần Thị Bảy. Mẹ sinh năm 1908, trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước tại ấp Gia Phước, xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách (nay thuộc huyện Mỏ Cày Bắc).

Năm lên 14 tuổi, Mẹ được mai mối và lập gia đình với ông Cao Văn Đáng, một nông dân giàu lòng yêu nước tại ấp Hòa Lộc, xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách. Ở đây, mọi người hay gọi Mẹ với cái tên thân thương là “Bà Sáu”. Mẹ được mọi người xung quanh quý mến, kính trọng bởi cái tính tình vui vẻ, hiền lành, tốt bụng lại là người vợ hiền, dâu thảo. Mẹ và ông Đáng có với nhau tất cả 10 người con, trong đó có bảy người con trai, ba người con gái.

Mặc dù cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng vì thương con, Mẹ đã vượt qua tất cả, làm lụng vất vả để chăm lo, nuôi nấng các con ăn học nên người. Năm 1945, Mẹ tham gia hoạt động cách mạng, vừa nuôi giấu bộ đội. Nhà Mẹ, là nơi hội họp, liên lạc của cách mạng. Dù hoàn cảnh gia đình còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng Mẹ vẫn chăm lo đầy đủ từng bữa ăn, cái mặc và từng chuyến đi công tác cho bộ đội.

Sau này, tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình, hầu hết các con của Mẹ đều tình nguyện tham gia cách mạng. Năm 1945, hai người con trai của Mẹ là anh Cao Hoàng Phát, sinh năm 1930 và anh Cao Hoàng Việt, sinh năm 1934 lên đường nhập ngũ tại Trung ương Cục miền Nam. Đến năm 1960, Mẹ lại tiếp tục tiễn ba người con trai của mình là anh Cao Văn Muôn, sinh năm 1940; anh Cao Văn Quới, sinh năm 1942 và Cao Thành Hảo, sinh năm 1943 lên đường tham gia cách mạng.

Những năm chiến tranh ác liệt, giặc khủng bố dã man, đồn bốt dày đặc nhưng Mẹ vẫn một lòng, một dạ sắc son vì chồng, vì con. Mẹ âm thầm, lặng lẽ làm lụng vất vả để các con yên tâm tham gia cách mạng. Có những lúc, Mẹ phải tìm cách tránh né nhiều nơi để sinh sống và làm lụng vì bọn giặc truy tìm Mẹ ráo riết nhất là những năm bình định ác liệt, nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, vì chồng, vì con Mẹ cũng mạnh mẽ vượt qua.

Cuộc đời Mẹ đã phải chịu nhiều cực khổ, mất mát khi phải tiễn biệt các con lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Năm 1961, Mẹ phải chịu nỗi đau xé lòng khi nhận được tin báo từ đơn vị là anh Cao Văn Muôn - một thanh niên có học thức sớm giác ngộ và tham gia cách mạng lúc chỉ mới 20 tuổi, là Trưởng ban ấn loát kiêm Trưởng ban y tế xã Vĩnh Hòa - Phú Sơn - Vĩnh Thành - Hưng Khánh Trung, trên chuyến đi công tác đóng quân ở ấp Hòa I, xã Vĩnh Hòa do bị gián điệp chỉ điểm nên trong lúc họp kín anh bị chúng ập vào, anh liền nhảy xuống sông định trốn thoát nhưng bị bọn chúng bao vây bắt được. Chúng đem anh về đồn đóng ở Phú Sơn để tra khảo nhưng anh nhất quyết không chịu khai báo, không khuất phục trước kẻ thù. Sau đó chúng đem anh về đồn ở Ba Vát tiếp tục tra tấn dã man, bỏ đói anh mấy ngày trời, sau đó dùng kiềm bẻ hết răng, xẻo lỗ tai treo lên nhà lồng chợ Ba Việt (Ba Vát) để răn đe quần chúng Nhân dân và cuối cùng chúng mổ bụng sống anh cho đến chết.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, ai nấy cũng đau xót cho người chiến sỹ kiên trung “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Nỗi đau chưa vơi, thì năm 1965, con trai Mẹ - anh Cao Hoàng Việt là Trưởng ban Thông tin Trung ương Cục miền Nam được rút về làm Trưởng ban Thông tin khu Sài Gòn Chợ Lớn - Gia Định trên đường đi công tác bị giặc bắn hy sinh tại Củ Chi. Cảm động hơn nữa là anh vừa mới lập gia đình với chị Lê Thị Sen, một đồng chí của mình nhưng hai người phải chia tay nhau để nhận nhiệm vụ và chị cũng hy sinh sau đó tại chiến trường tỉnh Bình Dương. Chị là người con dâu mà Mẹ chỉ biết tên nhưng chưa một lần được biết mặt.

Nhưng đâu chỉ có thế, ngày 02/9/1972, anh Cao Hoàng Phát công tác tại Tỉnh đội Bến Tre, năm 1960 được chuyển công tác về huyện Chợ Lách và giữ chức vụ Huyện ủy viên - Bí thư chi bộ liên xã Vĩnh Hòa - Long Thới - Vĩnh Thành trên đường đi công tác bất ngờ bị địch tấn công và đã anh dũng hy sinh tại ấp Gia Phước, xã Hưng Khánh Trung.

Mỗi một lần nhận được tin con mình hy sinh là mỗi lần Mẹ cắn răng khóc thầm lặng lẽ. Nhưng đau thương không làm Mẹ gục ngã, năm 1963, Mẹ tiếp tục động viên người con gái út là chị Cao Thị Ngọc Lan lên đường tham gia cách mạng. Chị là Thượng úy - công tác tại Công an tỉnh Bến Tre, trong quá trình tham gia cách mạng chị bị thương và sau này được Nhà nước công nhận là thương binh 4/4. Chồng Chị là liệt sỹ đã hy sinh tại chiến trường miền Nam. Đến năm 1994, trong cơn bệnh nặng nên chị đã qua đời.

Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gia đình Mẹ có ba người con trai, một người con dâu và một con rể đã anh dũng chiến đấu và “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong những người con còn lại của Mẹ có ba người con được Nhà nước công nhận là thương binh, một người con gái công tác tại đoàn thanh niên ấp, trong lúc làm vườn bị trúng đầu đạn M79 nổ chết.

Sau ngày hòa bình, anh Cao Thành Hảo công tác tại Quân khu 4 (khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định), là thương binh hạng 3/4, do hoàn cảnh gia đình nên anh xin nghỉ trở về địa phương và chăm sóc cho Mẹ. Hằng năm, cứ đến ngày giỗ của các con, Mẹ không sao cầm được nước mắt, Mẹ hay kể lại cho con cháu nghe về những chiến công lừng lẫy và sự hy sinh của các con mình và khuyên nhủ các cháu hãy sống tốt sao cho xứng đáng với sự hy sinh ấy. Những ngày cuối cuộc đời, Mẹ không mong mỏi gì hơn là các con, cháu của Mẹ có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, sống xứng đáng với sự hy sinh của ông cha mình. Năm 1984, Mẹ qua đời sau cơn bệnh nặng. Ngày 17 tháng 01 năm 1994, Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng.

Chiến tranh đi qua đã để lại bao mất mát đau thương cho những người Mẹ, người vợ, không có gì có thể đền đáp được công lao to lớn của các Mẹ, những Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, những người đã hiến dâng những người thân yêu nhất của mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Sự hy sinh đó là tài sản tinh thần vô giá, trường tồn cùng lịch sử dân tộc, mãi mãi được Tổ quốc ghi nhớ, tri ân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn